Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

B.1889- VẸT ĐẦU HỒNG





Sưu tập :

Vẹt đầu hồng - Psittacula roseata juneae, chi Psittacula, Tông Psittaculini, Phân họ Psittaculinae, Họ Psittaculidae, Bộ Vẹt Psittaciformes
                   
Chim đực trưởng thành: Đỉnh đầu và hai bên đầu hồng tươi má và gáy hồng phớt bạc Các lông ở gốc hàm dưới, cằm, họng và một dải ở dưới má đen kéo dài thành vòng ở hai bên và sau cổ. phần còn lại ở mặt lưng lục nhạt, phớt vàng nhạt ở phần trên lưng. Đuôi xanh nhạt, với phần gốc lông lục nhạt và mút lông vàng trắng nhạt. Cánh lục, các lông cánh và lông bao cánh đều viền màu nhạt hơn, phiến lông trong của các lông cánh sơ cấp đen nhạt. Ở lông bao cánh nhỡ có một vệt đỏ. Mặt bụng vàng lục nhạt. Dưới cánh và nách lục.
Chim cái: Bầu xám hồng viền vàng, không có vòng đen ở cổ. Mắt trắng hay vàng nhạt. Mỏ trên vàng cam, mỏ dưới đen. Chân lục xỉn.
Kích thước: Cánh (đực): 135 - 146, (cái): 131 - 141; đuôi (đực): 149 - 158, (cái): 145 - 156; giò 12 - 13; mỏ 17 - 19mm.
Phân bố: Vẹt đầu hồng phân bố ở Bengan, Nêpan, Axam, Miến Điện, Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương.
Việt Nam: loài này có ở khắp các rừng những chỗ tương đối không rậm rạp từ Quảng Trị trở vào Nam.


Nguồn : SVRVN T11.1, hình Internet

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét