Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019

B.2.298- BƯỚM CAM DI CƯ

B.2.298- BƯỚM CAM DI CƯ
Sưu tập :

B.2.298- Bướm cam di cư - Catopsilia scylla

Đặc điểm nhận dạng:Bướm trưởng thành có sải cánh rộng khoảng 45-50mm. Mặt trên của cánh (con đực) có màu trắng và chót cánh có viền màu đen, cánh sau màu vàng cam. Mặt trên cánh của con cái giống con đực nhưng có một vài đốm đen khá rõ. Mặt dưới cánh màu vàng cam với những đốm vàng đậm. Sâu non có màu xanh với 1 dải màu trắng nằm dọc theo hai bên thân với những đốm màu đen nằm phía trên theo dải màu trắng. Vùng đầu và chân phiá trước có màu xám nhạt hơn các vùng khác trên thân.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường thấy sống ở độ cao thấp, trong thành phố làng mạc và di cư với số lượng lớn theo mùa. Chúng tụ tập thành đàn dài bay dọc theo các con đường cùng với các loài bướm di cư khác. Sâu non ăn các loài thực vật thuộc họ Đậu Fabaceae như Cassia fistula, Casssia splendida, Cassia retusa…
Phân bố:
Loài này có vùng phân bố khắp Đông nam châu Á đến đải Fiji và một phần phiá bắc và nam Australia. Ở Việt Nam chúng phân bố cả nước. Tên bướm được dịch theo nghĩa tiếng Anh.

Nguồn : SVRVN, wikipedia & Internet

B.2.297- BƯỚM PHẤN PYRANTHE

B.2.297- BƯỚM PHẤN PYRANTHE
Sưu tập :

B.2.297- Bướm phấn Pyranthe – Catopsilia pyranthe

Catopsilia pyranthe là một loài bướm ngày có kích thước trung bình thuộc chi Catopsilia, Phân họ Coliadinae, họ Bướm phấn Pieridae, được tìm thấy ở Nam Á, Đông Nam Á và một phần của Úc.

Nguồn : Wikipedia & Internet

B.2.296- BƯỚM CHANH DI CƯ

B.2.296- BƯỚM CHANH DI CƯ
Sưu tập :

B.2.296- Bướm chanh di cư - Catopsilia pomona

Đặc điểm nhận dạng: Mặt dưới màu trắng, vàng nhạt và phần rìa ngoài, trên cánh trước được viền bằng màu đen. Con đực đặc trưng bởi vệt giới tính hình oval ở gốc khoảng 7 ở mặt trên cánh sau, và lông màu chì gần gốc, lưng ở mặt dưới của cánh trước. Một trong những loài phổ biến nhất thuộc họ này. Đây là loài có nhiều dạng khác nhau. Dạng phổ biến và thường gặp nhất ở con đực là màu nền của cánh xanh đọt chuối. Con cái có nhiều dạng khác nhau, phổ biến nhất là dạng màu vàng nhạt ở mặt trên với viền đen ở mép cánh, mặt dưới cánh sau. Sải cánh: 55-80mm.
Sinh học sinh thái:Vào mùa khô có thể gặp hàng đàn bay trong thành phố hoặc tập trung rất nhiều ở những vũng nước tại các khoảng trống trong rừng lẫn thành phố, phần lớn là con đực. Sự phổ biến của loài này, ngoài đặc tính di cư, còn liên quan đến sự phổ biến của loài cây chủ (các loài cây thuộc giống muồng Cassia , họ Đậu - Fabaceae). Loài này bay nhanh nhưng dễ nhận biết bởi màu sắc đặc trưng. Thường gặp nhiều ở vùng thấp có rừng thứ sinh hoặc khu vực gần nhà ở. Thông thường loài bướm này ở những vùng rừng có độ cao tới 1.500m. Bướm hay tụ tập ở những chỗ đất ẩm ướt dọc lề đường. Chúng có cánh khoẻ ,có thể gặp cả đàn lớn bay thẳng đứng lên.
Phân bố: Phân bố từ Ấn Độ qua Mianma, Thái Lan, Trung Quốc đến Đài Loan và Nam Nhật Bản; phía Nam qua Đông Dương, Philippine và bán đảo Malaysia đến quần đảo Sanda; phía Đông đến Tân Ghi-nê và Australlia. Đây là loài phổ biến khắp nơi ở Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Có giá trị cho việc làm bộ sưu tập, ghép tranh vì có màu sắc sáng sủa. Tuy sống trên cây họ Đậu nhưng chưa gây thành dịch hại.

Nguồn : SVRVN, wikipedia & Internet

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2019

B.2.295- BƯỚM PHẤN FLORELLA

B.2.295- BƯỚM PHẤN FLORELLA
Sưu tập :

06- Chi Catopsilia
B.2.295- Bướm phấn Florella – Catopsilia florella

Catopsilia florella là một loài bướm ngày thuộc chi Catopsilia, Phân họ Coliadinae, họ Bướm phấn Pieridae. Nó được tìm thấy ở Châu Phi (bao gồm Madagascar) và Quần đảo Canary. Giống như Catopsilia pomona, loài này cũng có thói quen di cư.
Sải cánh là 54 - 60 mm đối với nam và 56 - 66 mm đối với nữ. Bướm trưởng thành bay quanh năm. Từ Nam Phi, bướm trưởng thành di cư từ mùa hè sang mùa thu. Chúng bay theo hướng đông bắc.
Ấu trùng ăn chi Senna và Cassia họ Đậu Fabaceae.

Nguồn : Wikipedia & Internet

B.2.294- BƯỚM PHẤN RHAMNI

B.2.294- BƯỚM PHẤN RHAMNI
Sưu tập :

B.2.294- Bướm phấn Rhamni – Gonepteryx rhamni

Gonepteryx rhamni là một loài bướm ngày thuộc chi Gonepteryx, Phân họ Coliadinae, họ Bướm phấn Pieridae. Nó sống trên khắp vùng Palearctic và thường được tìm thấy trên khắp châu Âu, châu Á và Bắc Phi. Trên hầu hết phạm vi của nó, nó là loài duy nhất trong chi của nó, và do đó được gọi đơn giản là địa phương.
Vào mùa xuân khi cây chủ của chúng phát triển, chúng quay trở lại vùng đất ngập nước để sinh sản và đẻ trứng. Cả hai dạng ấu trùng và trưởng thành thông thường đều có màu sắc và hành vi bảo vệ làm giảm cơ hội được nhận ra và sau đó là con mồi.
Bướm trưởng thành có tính lưỡng hình giới tính trong màu cánh của nó: con đực có cánh màu vàng và ánh kim trong khi con cái có đôi cánh màu trắng xanh và không óng ánh. Sự óng ánh này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường.

Nguồn : Wikipedia & Internet