Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

274- ĐẠI HỒI

274- ĐẠI HỒI




ĐẠI HỒI
Quả em người gọi hoa hồi
Chế nước dùng phở của người Việt Nam
Thuốc trị dịch Cúm gia cầm
Ta-mi-lu đó - rất cần có em.
BXP
Sưu tập
Cây đại hồitên khoa học Illicium verumChi HồiIllicium, Họ Hồi Illiciaceae, bộ Austrobaileyales Mộc lan dây
Cây nhỡ, cao 6-10m. Thân thẳng to, cành thẳng nhẵn, lúc non màu lục nhạt sau chuyển sang màu nâu xám. Lá mọc so le, phiến lá nguyên, dày, cứng giòn, nhẵn bóng, dài 8-12cm, rộng 3-4cm, hình mác hoặc trứng thuôn, hơi nhọn dần, mặt trên xanh bóng hơn mặt dưới. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, có khi xếp 2-3 cái; cuống to và ngắn; 5 lá đài màu trắng có mép màu hồng; 5-6 cánh hoa đều nhau màu hồng thẫm. Quả kép gồm 6-8 đại (có khi hơn), xếp thành hình sao đường kính 2,5-3cm, lúc non màu lục, khi già màu nâu sẫm, mỗi đài dài 10-15mm, có mũi nhọn ngắn ở đầu. Hạt hình trứng, nhẫn bóng. Hoa tháng 3-5, quả tháng 6-9. 
Vào tháng 7-9 và 11-12, người ta thu hái quả chín, đem tách quả ra từng mảnh bỏ hạt, rửa sạch, phơi trong mát cho khô. Khi dùng tẩm rượu sao (cách giấy) hoặc tẩm nước muối sao qua (cách giấy). Người ta thu hái quả Hồi đem về phơi nắng nhẹ cho khô hẳn, rồi cất lấy tinh dầu. Cũng có thể cất từ quả tươi. 
Hồi có vị cay, ngọt, mùi thơm, tính ấm. Thường dùng trị nôn mửa và ỉa chảy, bụng đầy trướng. Còn dùng trị đái nhiều, đái dầm, ngộ độc thịt cá, trị tay chân nhức mỏi. Ngày dùng 4-8g dạng thuốc hãm, thuốc sắc, hoặc 1-4g quả dạng thuốc bột. Lá Hồi dùng trị rắn cắn (nhai nuốt nước, lấy bã đắp). Tinh dầu Hồi cũng có tác dụng kích thích, làm dễ tiêu, chống co giật, được dùng chữa đau bụng; là thành phần của thuốc ngậm chữa ho và là thuốc xoa bóp chữa thấp khớp, thuốc chữa đau tai, sát khuẩn, trị bệnh nấm da và ghẻ. Còn dùng làm thuốc diệt rận, rệp và là thành phần của thuốc bơm trừ sâu bọ cho gia súc. Đại hồi là một thành phần của ngũ vị hương truyền thống trong cách nấu ăn của người Trung Quốc. Nó cũng là một thành phần được sử dụng trong nấu nước dùng cho món phở của người Việt Nam.
Hiện nay, đại hồi thường được dùng làm thuốc trợ giúp tiêu hóa, ăn uống không tiêu, nôn mửa, đau nhức tê thấp. Mỗi ngày dùng 4-8 g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài ngâm rượu xoa bóp chữa đau nhức, tê thấp. 
Quả hồi đang trở thành cứu tinh của các nước có dịch cúm gia cầm vì nó là thành phần chính để bào chế thuốc kháng virus cúm Tamiflu. Tamiflu hiện đang được coi là dược phẩm có triển vọng nhất để làm giảm tác hại của bệnh cúm gia cầm (H5N1).Tại Việt Nam, hồi được trồng nhiều ở các tỉnh phía bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh
Hồi Nhật Bản(Illicium anisatum) vàhồi núi(Illicium griffithii) là các loại cây tương tự, nhưng không ăn được do chúng có độc tính cao; thay vì thế, chúng được sử dụng để đốt như là hương. 

Đơn thuốc:
1. Cảm hàn, đau bụng thổ tả: Dùng Hồi hương tán bột uống mỗi lần 2g với rượu, ngày uống 3,4 lần. Hoặc dùng tinh dầu Hồi uống mỗi lần 4 giọt, ngày uống 3-4 lần. 
2. Hôi miệng, thở hôi: Dùng hoa Hồi nhai nuốt, mỗi ngày vài cánh. 
3. Đau lưng: Hồi (bỏ hạt) tẩm nước muối sao, tán nhỏ, mỗi lần dùng 6-10g với rượu. Ngoài dùng lá Ngải cứu chườm nóng vào lưng. 
4. Chữa cổ trướng và thũng trướng mạn tính: Dùng Hồi hương 2g và hạt Bìm bìm 8g, tán bột, chia làm 2-3 lần uống trong ngày. Uống trong 3-4 ngày liền. 
5. Đại tiểu tiện không lợi: Hồi và Bìm bìm như trên tán bột mỗi lần uống 4g với nước gừng. 

273- NGŨ VỊ TỬ

3-bộ Austrobaileyales Mộc lan dây
Hệ thống APG II năm 2003 công nhận bộ này và đặt nó trong số các nhóm thực vật hạt kín cơ bản, bộ này gồm các họ sau: + Họ Austrobaileyaceae Họ này chỉ có một chi duy nhất là chi Austrobaileya, với tổng cộng hai loài dây leo thường xanh (A. maculata và A. scandens) sống lâu năm tại khu vực đông bắc Australia. Hiện nay (năm 2007) vẫn chưa có tên gọi tương ứng trong tiếng Việt cho họ Austrobaileyaceae cũng như chi Austrobaileya và hai loài này. + Họ Trimeniaceae Đây là một họ nhỏ chỉ có 1 chi với khoảng 6 loài cây thân gỗ hay dây leo, với lá mọc đối, mép lá nhẵn hoặc khía răng cưa, các gân lá thứ cấp trải rộng và gần nhau. Lá có các tuyến trong suốt. Hoa nhỏ, thụ phấn nhờ gió. Quả là dạng quả mọng nhỏ. Chúng có chứa tinh dầu. Họ này phân bổ ở khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới của Nam bán cầu, từ miền đông Australia
+ Họ Schisandraceae (họ Ngũ vị tử) 
Họ này được phần lớn các nhà phân loại học công nhận, bao gồm các loài thực vật thân gỗ có chứa các loại tinh dầu, trước có ba chi, sau APG II tách chi Hồi (Illicium) ra thành một họ riêng gọi là họ Hồi (Illiciaceae), chỉ còn 2 chi: Chi Ngũ vị tử (Schisandra) và Chi Ngũ vị tử nam (Kadsura), với tổng cộng khoảng 47 loài. 
- Chi Ngũ vị tử Schisandra chứa khoảng gần 20 loài cây bụi hay được trồng trong các khu vườn. Chúng là các cây dây leo lá sớm rụng có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất và ưa thích các bờ tường nơi có nhiều bóng râm. Các loài cây này có nguồn gốc ở khu vực Đông Á và quả khô của chúng được dùng trong y học. Quả của Schisandra chinensis được gọi là ngũ vị tử, nghĩa là "quả tạo ra năm vị", do một thực tế là quả của nó có đủ 5 vị cơ bản: mặn, ngọt, chua, cay, đắng. Trong y học cổ truyền Trung Hoa và một số nước lân cận thì người ta dùng nó để trị nhiều bệnh: chống nhiễm trùng, tăng sức khỏe cho da, điều trị chứng mất ngủ, ho hen, di tinh và háo nước. Một số người còn cho rằng nó có tác dụng kích thích tình dục. + Họ Hồi Illiciaceae 
Họ này được phần lớn các nhà phân loại học công nhận, có định nghĩa theo truyền thống, bao gồm một chi duy nhất là Chi Hồi (Illicium).Lựa chọn tách riêng họ Hồi trên thực tế là sự lựa chọn được tuân theo bởi hầu hết các hệ thống phân loại thực vật khác trong thời gian gần đây. 
- Chi HồiIllicium chứa khoảng 42 loài cây bụi và cây thân gỗ nhỏ thường xanh, và nó là chi duy nhất trong họ Hồi (Illiciaceae), nếu như tách họ này ra khỏi họ Ngũ vị tử (Schisandraceae). Các loài trong chi này có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc miền đông và đông nam châu Á, đông nam Bắc Mỹ và Tây Ấn.
Sẽ sưu tập giới thiệu hai cây đại diện cho hai họ là cây Ngũ vị tử và cây Đại hồi. 


273- NGŨ VỊ TỬ
 
 

NGŨ VỊ TỬ
Màu trắng vàng, hoa đơn khác gốc
Đủ chua, cay, mặn, ngọt, đắng....thơm
Quả chín đỏ thẫm, tính ôn
Di tinh, mất ngủ, ho hen...hay dùng.
BXP
Sưu tập
Ngũ vị tử Bắc tên khoa học Schisandra chinensis BaillChi Ngũ vị tử Schisandra, Họ Schisandraceae Ngũ vị tử, bộ Austrobaileyales Mộc lan dây.
Cây leo thân gỗ, vỏ cành màu xám nâu với kẽ sần nổi rõ, cành nhỏ hơi có cạnh. Lá mọc so le trên cành dài và mọc chụm vòng trên cành ngắn, phiến lá hình trứng ngược, dài 5-10cm, rộng 2-5cm, mép khía răng nhỏ và thưa,mặt trên sẫm hơn, gân lá non thường có lông ngắn. Hoa đơn tính, khác gốc màu trắng sẫm hay phớt hồng, có mùi thơm mát dịu, bao hoa xếp 2-3 lớp; hoa đực có 4-5 nhị; hoa cái có 12-120 lá noãn rời, mỗi lá noãn chứa 2-3 noãn. Lúc kết quả, trục hoa kéo dài, quả thật tròn mọc phân tán thành chùm, màu đỏ thẫm; mỗi quả chứa 2 hạt nhẵn. Hoa tháng 5-6, quả tháng 7-9. 
Cây gặp trong rừng các vùng núi cao như ở Lào Cai (Sapa), Lai Châu (Phong Thổ). 
Thu hái các dầu quả chín về mùa thu, phơi khô. 
Ngũ vị tử có 5 vị: ngọt, mặn, đắng, cay và chua, nhưng thường là chua, ngọt, tính ấm, nhân hạt có vị cay và đắng. 
Quả ăn được. Thường dùng chữa hen suyễn, ho lâu, nhiều mồ hôi, ra mồ hôi trộm, di tinh, ỉa chảy kéo dài, bồn chồn mất ngủ. Liều dùng: 2-8g, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. 

Đơn thuốc:
1. Chữa thận hư, đái trắng đục, đau eo lưng, cứng xương sống: Dùng Ngũ vị tử 1 lạng, sấy khô, tán nhỏ làm viên bằng hạt Đậu xanh, uống mỗi lần 30 viên, với giấm (Nam dược thần hiệu). 
2. Chữa liệt dương: Dùng Ngũ vị tử 100g, sấy khô, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g, ngày uống 3 lần (Nam dược thần hiệu). 
3. Chữa ho suyễn: Ngũ vị tử và phèn phi bằng nhau, tán bột, dùng mỗi lần 3 đồng cân (12g), cho vào giữa phổi lợn luộc mà ăn hàng ngày thì tiêu đờm bớt ho hen (nam dược thần hiệu). 
4. Chữa người già phổi yếu suyễn thở (khí suyễn): Ngũ vị tử 5g, Sa sâm bắc 12g, Mạch môn và Ngưu tất đều 16g, sắc uống. 
Ghi chú: Loài Ngũ vị hoa to - Schisandra grandiflora (Wall.) Hook. f. et Thoms., ở các tỉnh vùng cao phía Bắc nước ta cũng có quả ăn được và hạt dùng làm thuốc như Ngũ vị.
+ Ngũ vị tử namtên khoa học Kadsura longipedunculataFinet et Gagnep, chi Kadsura
Cây leo thường xanh, dài 2,5-4m; thân nhẵn không lông. Lá đơn, mọc so le, đầu nhọn, mép có răng thưa, cứng, dai, mặt trên màu lục xám, mặt dưới màu trắng sáng, có chấm vàng. Hoa đơn tính, mọc ở nách lá; cuống hoa dài. Trong hoa đực, nhị họp lại thành hình cầu; trong hoa cái, các lá noãn rời dính trên một trục hoa ngắn thành hình đầu. Quả kép hình cầu tròn gồm nhiều quả thịt nom giống quả Na, khi chín màu vàng phớt hồng. Hoa nở vào mùa thu. 
Cây mọc hoang ở rừng, leo lên các cây to. Thu hái rễ, thân quanh năm, rửa sạch, thái lát, phơi khô dùng. Quả thu hái vào mùa đông, khi chín, phơi khô. Quả làm thuốc trị suy nhược và liệt dương. Hạt được dùng thay vị Ngũ vị, do đó mà có tên trên.
Trong tây y ngũ vị tử được dùng làm thuốc kích hệ thần kinh trung ương, trong trường hợp lao động chân tay và trí óc quá độ, mệt mỏi về tinh thần và thể lực, uể oải buồn ngũ. Dùng dưới dạng cồn thuốc, bột hay thuốc viên.

272- SÚNG


2- Bộ Súng Nymphaeales
Bộ Súng là một đơn vị phân loại thực vật ở cấp bộ. Bộ này được coi là một nhóm cơ bản hay phân kỳ sớm của thực vật hạt kín. Các họ trong bộ này được kết hợp lại như là các họ của các loài thực vật thân thảo sống thủy sinh và đã được biết đến từ các mẫu hóa thạch có từ thời kỳ Tiền Phấn trắng. Các Họ được nhiều Hệ thống phân loại công nhận là:
+ Họ Cabombaceae: Các loài rong lá ngò Họ này bao gồm 2 chi là Brasenia với 1 loài (rau nhút hay thuần thái, Brasenia schreberi) và Cabomba, với khoảng 7 loài thực vật thủy sinh với tên gọi phổ biến là rong lá ngò + Họ Hydatellaceae: chỉ chứa 1 chi Trithuria, với 12 loài thực vật thủy sinh tương đối đơn giản và nhỏ xíu (chỉ cao vài cm). Các lá đơn tập trung xung quanh đoạn gốc của một thân ngắn, mọc ngầm dưới nước hay nổi trên mặt nước, với rễ ăn vào bùn, thích nghi với môi trường ẩm ướt theo mùa. Hydatellaceae là nhóm chị-em còn sinh tồn của họ Súng và họ Rong lá ngò, đại diện cho một trong những dòng dõi cổ nhất của thực vật có hoa. + Họ Nymphaeaceae: Các loài súng Các loài súng sinh sống ở các khu vực ao, hồ và đầm lầy, với lá và hoa nổi lên trên mặt nước. Lá súng hình tròn, các chi Nymphaea và Nuphar có lá bị khía chữ V nối từ mép lá tới phần cuống lá, nhưng chi Victoria lại có lá hoàn toàn tròn và không bị khía. Lá đơn, mọc cách. Hoa xếp xoắn vòng, cánh hoa nhiều, xếp lợp. Tổng cộng 4-6 chi và khoảng 60-80 loài phân bố rộng khắp thế giới. Chỉ giới thiệu chi Súng Nymphaea là chi thông dụng nhất với ba loài đại diện: Súng lam, Súng trắng, Súng đỏ. Vùng Đồng Tháp Mười có nhiều bông súng nhất Việt Nam. Hiện tại, việc khai thác loài hoa này còn tự phát, chưa có quy hoạch. Tuy nhiên các loài cây này có khả năng tái sinh mạnh. Tại các chợ ở miền tây Nam Bộ, có thể thấy bán những bó cọng bông súng mập mạp nâu nâu mang bông có màu tím nhạt, cuộn tròn, tươi rói. Bông súng cắt khúc có thể được thưởng thức bằng cách chấm mắm kho, trộn gỏi, hay ăn sống, cũng như có thể thể xào, nấu canh.
272- SÚNG
Tên em: Vũ khí giết người! (Súng) Thân em mềm mại hoa cười tươi xinh Hương thơm toả ngát trời xanh "Từ bùn nên vẫn đạm thanh hương bùn" * BXP *câu thơ của Nhạc sĩ Hồ Bông nguyên là Trưởng đoàn ca múa nhạc Bông Sen
Sưu tập ChiSúng Nymphaea, họ Nymphaeaceae (Súng),bộ Nymphaeales (Súng)
1-Súng lam tên khoa học Nymphaea stellata (Nymphaea nouchali)
 1- Súng lam Nymphaea nouchali Burm.f.
Phân bố ở Việt Nam: Rộng khắp
Cây có thân rễ bò dài trong bùn. Lá to nổi trên mặt nước, dạng gần tròn, gốc hình tim, mép lượn sóng, màu lục, mặt dưới màu tía. Cuống lá dài.
Hoa lớn màu lam, cánh hoa dài thuôn, mềm xếp nhiều vòng đều. Nụ hoa đẹp, hoa chóng tàn.. nhị nhiều. Quả 15 - 18 ô, hạt nhiều.

 2- Súng trắng tên khoa học Nymphaea lotus(Nymphaea pubescens)
Cây có nguồn gốc vùng Trung cận Đông, nay mọc rộng toàn thế giới. Ở Việt Nam, cây mọc rất phổ biến nơi ruộng nước, hồ ao nước nông, nhiều bùn khắp nước ta. Cây có thân rễ bò dài trong bùn. Lá to, nổi trên mặt nước, dạng gần tròn, gốc hình tim, mép có răng hình tam giác, màu lục hồng, rối. Cuống lá dài. Hoa lớn màu trắng hay hơi hồng, với các cánh hoa dài thuôn, mềm xếp nhiều vòng, đều. Nụ hoa đẹp, hoa nở ít bền, chóng tàn. Nhị nhiều. Quả 15-18 ô, hạt nhiều. Cây mọc khoẻ nơi đủ nước, đủ nắng, nóng, nơi nước đọng hay chảy nhẹ. Cây trồng chủ yếu bằng các đoạn thân rễ, rất ít khi bằng hạt. Để làm cảnh đẹp, có thể trồng các loài khác
[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/Admin/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/07/clip_image002.jpg[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/Admin/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/07/clip_image002.jpg[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/Admin/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/07/clip_image002.jpg[/IMG]
[img]http://caycanhthanglong.vn/Media/images/Tudien/Cayotrongnuocbonuoc/Nymphaea-rubra-Roxb3.jpg[/img]
3-Súng đỏ tên khoa học Nymphaea rubra Roxb
Đặc điểm: Hoa có cánh màu hồng đậm

271- Amborella trichopoda


NHÁNH ANGIOSPERMAE
1-bộ Amborellales bộ đơn loài
2-bộ Nymphaeales bộ Súng
3-bộ Austrobaileyales Mộc lan dây
4-bộ Chloranthales Hoa sói
1-Bộ Amborellales

Amborellales là tên gọi khoa học của một đơn vị phân loại ở cấp bộ đã được hệ thống APG III năm 2009 xác nhận. Đây là bộ đơn loài, chỉ chứa mộthọAmborellaceaevới 1 loài duy nhất có danh pháp Amborella trichopoda, sinh sống hạn chế trong khu vực New Caledonia - do vậy không có tên gọi trong tiếng Việt

271- Amborella trichopoda

[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/Admin/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/09/clip_image002.jpg[/IMG]

Amborella trichopoda

Độc loài của Nhóm tồn sinh 
Cây gỗ không mạch - định hình đầu tiên
Người cần nghiên cứu kỹ em
Quá trình tiến hoá làm nên diệu kì!
BXP

Sưu tập
Amborella trichopoda thuộc chi Amborella,họ AmborellaceaeBộ Amborellales,nhánh angiospermae

Amborella trichopoda là một loài cây bụi hay cây gỗ nhỏ hiếm, không mạch, mọc dưới tán các tầng thấp. Nó đại diện cho một nhánh của thực vật có hoa đã rẽ nhánh rất sớm (khoảng 130 triệu năm trước) ra khỏi tất cả các loài thực vật có hoa khác hiện còn sinh tồn. 
Cây gỗ nhỏ vươn dài với các lá mọc hai tầng không có lá kèm. Lá đơn sắp xếp so le, thường xanh với mép lá có khía răng cưa và hơi gợn, kích thước dài khoảng 8–10 cm. Loài này là đơn tính khác gốc: mỗi hoa sinh ra cả nhị lẫn nhụy, nhưng chỉ có một trong hai kiểu (nhị hay nhụy) phát triển đầy đủ và có khả năng sinh sản tại hoa của mỗi cây, các cấu trúc của phần kia không phát triển đầy đủ. Các hoa nhỏ, kích thước 4–8 mm, mọc thành cụm hoa dạng xim ở đầu cành hay chùm hoa, mỗi hoa với bao hoa gồm các lá đài không phân dị, sắp xếp thành hình xoắn ốc, chứ không phải các vòng xoắn như ở hoa của các loài phát sinh muộn hơn. Quả là quả mọng màu đỏ, chứa một hạt dài 5–8 mm.
Số lượng cá thể của loài này trong tự nhiên đang bị suy giảm mạnh do chăn thả thái quá và mất môi trường sống.


Cảm ơn VT, tôi đã thử theo cách của VT vào trang ST một số ảnh thì được, nhưng khi vào trang của MM thì không được, tôi lại post đương link thì được, không hiểu thế nào. Trước đây tôi cứ loay hoay không post được ảnh vào TH, sau tôi thử theo cách của TĐ thì được, chứng tỏ TĐ và TH cùng một phần mềm. Tôi rất lúng túng trong việc ảnh không hiện, theo cách của VT tôi đã thử cả ở TĐ và TH, coppy ảnh thì ở TĐ không hiện, ở TH thì khi hiện khi không, tôi không hiểu vì sao. Tuy nhiên, đã loé cho tôi một tia sáng trong hướng đi của mình, điều quan trọng là tôi rất xúc động trước sự quan tâm giúp đỡ của VT, đã động viên khích lệ tôi rất nhiều.Hiện tại sức khoẻ tôi không tốt, mấy ngày rét nhiều tôi lại thêm chứng ho rũ rượi nên rất mệt, chỉ vào trang một chút lại phải nghỉ. Trang ST ở TH là sức sống hiện tại của tôi, được VT và các bạn thơ rất quan tâm, lượng người đọc luôn luôn gấp đôi TĐ, tôi cảm nhận được tình cảm sâu nặng của TH đối với tôi, không có nó chắc tôi sớm quị. Cảm ơn VT và các bạn.

ĐỊNH HƯỚNG SƯU TẬP


ĐỊNH HƯỚNG SƯU TẬP
Tôi lập Topic này với mục đích sưu tầm cây cỏ, thực hiện đam mê thời trẻ của mình. Topic gồm ba phần: Ảnh hoa - Thơ hoa - Sưu tập. Đó là điều kiện Cần và Đủ cho sự tồn tại của Topic, thiếu một trong ba đều không ổn. 
+ Ảnh hoa: Tôi cố gắng mày mò các đường link thích hợp, nhưng khi đưa vào diễn đàn nó có hiện không thì còn tuỳ duyên.
+ Thơ hoa: Vì mục đích sưu tập nên thơ hoa chỉ mang hình thức miêu tả, kiến thức hạn hẹp, làm hàng trăm bài thơ khó tránh khỏi sự lặp lại vô vị, mong được cảm thông.
+ Sưu tập: Tôi đã hoàn thành sưu tập ngành Hạt trần. Sang ngành Hạt kín, tôi đã viết bài Tổng quan Ngành hạt kín, sau đó bị mất dữ liệu thành hoang mang hụt hẫng. Bước vào sưu tập Phong lan, đăng hàng loạt bài mà ảnh không hiện, cảm giác cứ chơi vơi. Nay cố gắng bình tĩnh lại, tôi đề ra một định hướng cụ thể như sau:
Sưu tập theo hướng tiến hoá của Hệ thống phân loại, cụ thể là Hệ thống APG III (2009), gồm 
12 Nhánh, phân thành59 bộ và 8 họ không bộ.
1-nhánh angiospermae 4 bộ
2- nhánh magnoliids 4 bộ
3- nhánh monocots 7 bộ
4- nhánh Commelinids 5 bộ +1họ khg bộ
5- nhánh eudicots 4 bộ +1họ khg bộ
6- nhánh core eudicots 2 bộ +1họ khg bộ
7- nhánh rosids 1 bộ
8- nhánh Fabidae (eurosids I) 8 bộ
9- nhánh Malvidae (eurosids II) 11 bộ
10-nhánh asterids 2 bộ
11-nhánh lamiids (euasterids I) 4 bộ + 5 họ khg bộ
12-nhánh campanulids (euasterids II) 7-bộ
Ngành Hạt kín tôi đã sưu tập được 34 bộ, sẽ tiếp tục sưu tập tổng quát hết các bộ trong 12 nhánh, sau đó sẽ đi vào chi tiết các Họ. Với tình yêu cây cỏ, đam mê sưu tập nhưng kiến thức hạn hẹp, trình độ vi tính mù mờ, tôi gặp rất nhiều khó khăn. Tìm được đường link thích hợp với bài viết đã rất khó mà đưa vào diễn đàn ảnh lại không hiện thì thật buồn. Còn một điều trăn trở nhưng vì trình độ non kém nên rất khó thực hiện: Một bài viết đúng ra là phải dẫn nguồn, khổ nỗi tôi không biết lấy đường link để dẫn, hơn nữa, một bài viết có khi tôi phải nhặt nhạnh từ nhiều nguồn nên rất khó dẫn dụ. Về phân loại tôi dựa cơ bản vào wikipedia, về mô tả cây thì tôi nhặt khắp nơi. Mong rằng, nếu có ai đó đọc được trong bài viết của tôi có phần của mình cũng xin được thông cảm. Sưu tập là tôi đi nhặt nhạnh, theo cách của nông dân; "năng nhặt chặt bị". Gọi là "bài viết" nhưng chỉ là coppy nhặt của mọi người ở khắp nơi chứ thực tôi chẳng có gì cả. Rất mong được mọi người cảm thông lượng thứ.
Nhân đây tôi muốn trao đổi với các bạn cùng yêu cây cỏ như tôi vài nét khái quát về Phân loại thực vật. Tôi không phải nhà khoa học, chỉ là một nông dân yêu cây cỏ, thích sưu tầm, điều tôi nêu ra có thể có chỗ chưa đúng, đó là vì nhận thức của tôi chưa tới, hiểu được thế thì nói thế, mong được cảm thông. Tổ tiên của thực vật là Trùng roi. Trùng roi là một nhóm nhiều ngành, tổ tiên chung của sinh vật. Cơ thể gồm một khối nguyên sinh, nhân, diệp lục và một số chất sắc khác. Roi là phần kéo dài của chất nguyên sinh, gốc có thể sinh roi và hạt mầu đỏ gọi là nhãn điểm - tác dụng hướng cơ thể đến chỗ ánh sáng. Trùng roi giống động vật ở chỗ nó có thể di chuyển bơi được trong nước nhờ hai roi, giống thực vật ở chỗ có diệp lục có thể tự dưỡng, sinh sản vô tính bằng cách nhân đôi theo chiều dọc. Người ta phân thực vật ra hai loại: Thực vật bậc thấp gồm: Trùng roi, Vi khuẩn, Tảo, Niêm thực vật, Nấm và Địa y. Thực vật bậc cao gồm: Đài thực vật (Rêu), Quyết thực vật (Thạch tùng, Mộc tặc, Dương xỉ), Thực vật có hạt (Tuế, Bạch quả, Dây gắm, Thông và Ngành Thực vật hạt kín hay thực vật có hoa). 
Ngành Thực vật hạt kín gồm 8 nhóm, nhóm đầu tiên chỉ có một loàiAmborella trichopoda, nhưng nhờ phân tích ADN, người ta thấy nó không giống với bất cứ loài cây nào nên không thể xếp nó vào Họ, Bộ nào khác mà phải xếp nó vào một Bộ riêng của chính nó: bộ Amborellales. (Tương tự như Bạch quả của ngành Hạt trần)