Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2018

B.310- ONG MẬT CHÂU Á

B.310- ONG MẬT CHÂU Á
Sưu tập :

B.310- Ong mật châu Á - Apis cerana

Apis cerana, hoặc ong mật đông (và ong mật châu Á), là một loài ong mật được tìm thấy ở phía nam và đông nam châu Á, bao gồm Trung Quốc, Pakistan, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Nepal, Bangladesh, Papua New Guinea, Quần đảo Solomon và Úc. Loài này là loài chị em của Apis koschevnikovi, và cả hai đều thuộc cùng một phân loài như ong mật phương Tây (châu Âu), Apis mellifera. A. cerana được biết là sống một cách đồng thời với Apis koschevnikovi trong cùng một vị trí địa lý. Apis cerana colonies được biết đến với việc xây dựng tổ bao gồm nhiều lược trong sâu răng có chứa một lối vào nhỏ, có lẽ là để phòng thủ chống lại cuộc xâm lược của các cá nhân của tổ khác. Chế độ ăn của loài ong mật này chủ yếu là phấn hoa và mật hoa, hoặc mật ong. Hơn nữa, Apis cerana được biết đến với hành vi xã hội cao, phản ánh phân loại của nó như là một loại ong mật

Nguồn : Wikipedia & Internet

B.309- ONG MẬT CARNIOLAN

B.309- ONG MẬT CARNIOLAN



Sưu tập :

B.309- Ong mật Carniolan - Apis mellifera carnica

Ong mật Carniolan - Apis mellifera carnica, Pollmann) là một phân loài của ong mật phương Tây. Ong mật Carniolan có nguồn gốc từ Slovenia, miền nam Áo, và một phần của Croatia, Bosnia và Herzegovina, Serbia, Hungary, Romania và Bulgaria.
Ong mật Carniolan là phân loài của ong mật phương Tây đã nhập quốc tịch và thích nghi với tiểu vùng Kočevje (Gottschee) của Carniola (Slovenia), phần phía nam của dãy Alps Áo, vùng Dinarides, đồng bằng Nam Pannonian và vùng Balkan phía bắc . Những con ong này được gọi là Carniolans, hoặc "Carnies", viết bằng tiếng Anh. Hiện nay phân loài này là loài phổ biến thứ hai trong số những người nuôi ong (sau ong Ý).
Phẩm chất
Nó được ưa chuộng trong số những người nuôi ong vì nhiều lý do, không phải ít nhất là khả năng tự bảo vệ thành công khỏi côn trùng gây hại trong khi đồng thời cực kỳ nhẹ nhàng trong hành vi của nó đối với người nuôi ong. Những con ong này đặc biệt giỏi trong việc điều chỉnh dân số công nhân thành mật độ sẵn có của mật hoa. Nó dựa trên những điều chỉnh nhanh chóng về mức độ dân số để nhanh chóng mở rộng quần thể ong sau khi mật hoa trở nên có sẵn vào mùa xuân, và, một lần nữa, để nhanh chóng cắt đứt sản xuất bố mẹ khi mật hoa chấm dứt có sẵn về số lượng. Nó đáp ứng các giai đoạn của mật hoa cao với dân số công nhân cao và do đó lưu trữ số lượng lớn mật ong và phấn hoa trong những giai đoạn đó. Chúng có khả năng kháng một số bệnh và ký sinh trùng có thể làm suy yếu phát ban của các phân loài khác.

Nguồn : Wikipedia & Internet

B.308- ONG MẬT Ý

B.308- ONG MẬT Ý


Sưu tập :

B.308- Ong mật Ý - Apis mellifera ligustica

Apis mellifera ligustica là loài ong Ý, là một phân loài của ong mật phương Tây (Apis mellifera). Là phân loài phổ biến nhất của ong, thông qua khả năng thích ứng với các vùng khí hậu khác nhau. Được giới thiệu tại Hoa Kỳ (1859), Úc (1862), Phần Lan (1866), New Zealand (1880). Ở Trung Quốc, được lựa chọn đặc biệt, được sử dụng để sản xuất sữa ong chúa chuyên sâu (năng suất của nó cao hơn 1600% số ong không được chọn).
Ong mật của Ý được cho là bắt nguồn từ phần lục địa của Ý, phía nam dãy núi Alps và phía bắc Sicily. Các phân loài có thể đã sống sót qua Ice Age cuối cùng ở Ý. Đó là một phân loài di truyền khác với phân loài từ bán đảo Iberia và từ Sicily. Nó là phân bố rộng rãi nhất của tất cả các loại ong mật, và đã chứng minh khả năng thích ứng với hầu hết các vùng khí hậu từ cận nhiệt đới đến ôn đới lạnh, nhưng nó ít thành công hơn ở các vùng nhiệt đới ẩm. Nó đôi khi được gọi là ong Liguria.

Nguồn : Wikipedia & Internet

B.307- ONG MẬT PHƯƠNG TÂY

B.307- ONG MẬT PHƯƠNG TÂY
Sưu tập :

B.307- Ong mật phương Tây - Apis mellifica

Nội dung: Thân lớn hơn ong nội nhưng nhỏ hơn ong khoái. Đít hơi tù. Màu vàng. Số quân 25 - 45kg. Tạo thành nhiều cầu (12 - 48 cầu) 44 ´ 25cm. Khả năng thuần hóa tốt. Nuôi ở thùng nhiều tầng. Sản lượng mật bình quân 20 - 25 kg/đàn, sáp: 0,2 - 0,25kg, sữa: 0,3 - 0,7kg, phấn: 2 - 3kg. Có thể nuôi ở quy mô lớn, áp dụng phương pháp kỹ thuật nuôi mới. Thường mắc bệnh chí rận, nhộng trần, thối ấu trùng. OSG lớn con, mập mạp, chậm chạp, sức hợp đàn lớn, ít sẻ đàn và bốc bay. Hình dạng ong chúa lớn gấp 1,5 lần ong thợ. Cánh ong chúa chỉ phủ phần nửa bụng, 6 chân dài, cặp chân sau không có giỏ phấn. Chân dài, nhưng yếu hơn chân ong thợ. Mình ong chúa phủ đầy một bộ lông mịn, mượt. Khi ong chúa già, phần sau của bụng lông tơ rụng gần hết, đít ong chúa teo lại, màu da sẫm đen. Ong thợ có hình dáng thon, đít ngắn, hơi nhọn, cánh dài chấm đuôi. Mình phủ một lớp lông tơ thưa và ngắn. Bộ chân ngắn và chắc chắn. 2 chân sau có hình lõm, gọi là giỏ phấn. Ong đực có đầu thân to, đít to, màu đen sẫm. Đôi mắt kép dính liền với nhau. Không có ngòi chích. Hàm dưới bị thoái hóa, ăn uống nhờ ong thợ mớm. Bộ phận sinh dục phát triển mạnh, thân thể cường tráng. Ong đực xuất hiện theo mùa sinh sản. Khi có mật và phấn đầy đủ, đàn ong xây cầu mạnh, chúa đẻ tốt. Khi nguồn phấn giảm, đàn ong ngừng xây cầu, thế của đàn giảm sút nhanh. Vào mùa thiếu mật trong các đàn ong có hiện tượng cướp mật, gây thiệt hại lớn.

Nguồn : Wikipedia & Internet

B.306- ONG CHÚA

B.306- ONG CHÚA
"Sữa ong chúa" sản xuất từ trong cơ thể của các con ong thợ
Sưu tập :
`
B.306- Ong chúa

Ong chúa là một con ong trưởng thành, đã giao phối sống trong một thuộc đàn ong hoặc tổ ong mật, con ong chúa thường là mẹ của hầu hết, nếu không phải tất cả, những con ong trong tổ ong. Ong chúa phát triển từ ấu trùng được lựa chọn bởi con ong thợ và cho ăn đặc biệt để trưởng thành về tình dục. Bình thường chỉ có một con ong chúa trưởng thành đã giao phối trong một tổ.
Đặc điểm
Tương tự như loài kiến và mối, tổ ong có ong chúa chuyên đẻ trứng, ấu trùng do trứng nở ra được nuôi bởi ong thợ (các con ong thợ này là các con cái mất khả năng sinh sản), những ấu trùng này sẽ lớn lên thành ong non và cuối cùng, trong đàn ong còn có ong đực, có số lượng rất ít trong tổ khoảng 200 con, chúng chết đi sau khi giao phối với ong chúa.
Ong chúa là con ong cái duy nhất có quyền đẻ trứng trong đàn o¬ng, dài và to hơn các o¬ng đực, ong thợ, cánh ngắn hơn thân, có nhiệm vụ đẻ trứng nhưng không làm ra mật, o¬ng chúa nở từ một cái trứng như các trứng khác, nhưng ấu trùng được nuôi bắng tuyến nước bọt (sữa ong chúa) của ong thợ đặc biệt rất bổ, chứa trong một ổ riêng chỉ sử dụng cho ong chúa hoặc ong chuẩn bị phát triển thành ong chúa. Ong chúa sống 3 - 5 năm, mỗi tổ chỉ có một con o-ng chúa, nếu trong tổ có nhiều ong sẽ tách thành tổ mới, thường vào mùa xuân.
Vào thập niên 1960, các nhà côn trùng học ở Viện Bảo tàng tự nhiên Paris đã phát hiện ra ong chúa điều khiển các con ong khác trong tổ thông qua nước bọt. Họ cho biết tuyến nước bọt của ong chứa chứa đựng một kho các chất hóa học. Khi được "bức xạ" vào không gian của loài ong, các chất này sẽ truyền tải thông tin đến từng con ong và mệnh lệnh sẽ được chấp hành triệt để. Thành phần của các hóa chất nước bọt vô cùng phức tạp. Người ta mới chỉ phân tích và biệt lập được trên 30 trong số hàng trăm chất khác nhau.
Các nhà nghiên cứu đã thử tước bỏ vũ khí bí mật của ong chúa, bằng cách làm ngừng trệ sự hoạt động của tuyến nước bọt. Kết quả là mọi quyền hành của con ong chúa biến mất, và đàn ong thợ cũng lập tức làm ngơ ong chúa của mình.
Cái tên “Sữa Ong Chúa” hay bị hiểu lầm bởi vì con ong chúa là một loài côn trùng không có vú. Mà không có vú thì làm sao mà có sữa. Mà cho dù có vú đi nữa thì một con ong chúa làm sao có thể sản xuất ra nhiều sữa như vậy. Thật ra, thay vì gọi “Sữa Ong Chúa”, chúng ta nên gọi là “Sữa Nuôi Ong Chúa” hoặc “Thức Ăn Nuôi Ong Chúa” mới đúng.
Thức ăn đặc biệt này được sản xuất từ trong cơ thể các con ong thợ để nuôi ong chúa và tất cả các ong con mới nở từ trứng:
+ Ong chúa ăn thức ăn đặc biệt này từ lúc mới nở từ trứng ra cho đến suốt đời, tuổi thọ trung bình 5-6 năm.
+ Các ong con khác được ăn thức ăn đặc biệt này chỉ trong 3 ngày sau khi nở từ trứng ra, đến ngày thứ tư thì được chuyển qua ăn mật ong và phấn hoa, lớn lên thành ong thợ, tuổi thọ khoảng 4-6 tuần.

Nguồn : Wikipedia & Internet