Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

2123- THÀI LÀI




















THÀI LÀI

Thài lài còn gọi rau trai
Xanh lơ hoa dại mọc ngoài đất hoang
Sinh sôi...sức sống tiềm tàng
Chữa nhiều bệnh, lại còn làm rau ăn.

BXP

Sưu tập lại Bài 345

Thài lài, Rau trai, Trai thường - Commelina communis, Chi Commelina, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)
 
Mô tả: Cây thảo sống hằng năm cao 20-60cm, hơi có lông mềm, có lông tơ hay lông lởm chởm. Rễ dạng sợi. Thân phân nhánh, thường rạp xuống, đâm rễ ở các đốt. Lá thuôn hay hình ngọn giáo, có bẹ ở gốc, dài 4-9cm, rộng 1,5-2cm, không cuống. Cụm hoa xim không cuống, có những lá bắc dạng mo bao quanh nom như con trai, trong mỗi mo có 2 hoa. Hoa có 3 lá đài màu xanh và 3 cánh hoa màu xanh lơ. Quả nang thường bao bởi bao hoa, thuôn hay gần hình cầu, có 4 hạt.
Hoa tháng 5-9, quả tháng 6-11.  
Nơi mọc: Mọc hoang ở những nơi ẩm ướt, ở ruộng khắp vùng Viễn đông. Ở nước ta và một số nước khác, người ta hái các ngọn non làm rau luộc hay nấu canh ăn nên có tên là rau Trai. Người ta lấy toàn cây quanh năm để làm thuốc, mang về rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.
Công dụng: Thường dùng trị: Cảm cúm, viêm nhiễm phần trên đường hô hấp. Viêm amygdal cấp, viêm hầu họng. Phù thũng, nhiễm khuẩn đường niệu và sinh dục. Viêm ruột thừa cấp, kiết lỵ. Liều dùng 30-40g, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài trị viêm mủ da, giải chất độc do rắn rết, bò cạp cắn đốt đau buốt và đầu gối, khớp xương bị sưng đau; lấy cây tươi giã đắp. 

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

2122- CỎ ĐẦU RÌU HOA NÁCH


(Sưu tập lại Bộ Thài lài)

CỎ ĐẦU RÌU HOA NÁCH

Lá dài, không cuống, bẹ ôm thân
Nách lá mang hoa, đỏ hoặc lam
Cây mọc hoang nhiều nơi suối ruộng
Tai viêm, mụn nhọt rất ưa dùng.

BXP

Sưu tập mới

Cỏ đầu rìu hoa nách, Bích trai nách - Cyanotis axillaris, Chi Cyanotis, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)
 
Mô tả: Cây thảo 15-50cm, thân rộng 4-6mm; có ít lông. Lá không cuống, dài 4-7cm, rộng 0,9cm, có lông ở bẹ ngắn. Xim ngắn ở nách lá, mang 2-3 hoa màu lam, lam dợt hay đỏ; 3 lá đài cao 2mm, 3 cánh lá cao 8-9mm; 6 nhị với chỉ nhị có lông tím. Quả nang 3-6mm.
Hoa tháng 11.
Nơi mọc: Cây mọc ở bờ đá, dựa suối, ruộng, nhiều nơi của nước ta. Còn phân bố ở Campuchia, Ấn Ðộ.

Công dụng: Ở Campuchia, người ta gọi nó là loài Cỏ hoa của đá. Toàn cây được sử dụng, dùng ngoài để điều trị các vết đứt và mụn nhọt. Ở Ấn Ðộ, toàn cây cũng được dùng làm thuốc trị viêm màng nhĩ và dùng đắp ngoài trị cổ trướng.

2121- CỎ ĐẦU RÌU


(Sưu tập lại Bộ Thài lài)

CỎ ĐẦU RÌU

Phiến xoan thuôn, cây thảo mọng nước
Lá không có cuống, mọc xít nhau
Cụm hoa ngọn cành, màu lam hay đỏ
Đọt non nấu canh, cũng trồng làm cảnh.

BXP

Sưu tập mới

Bộ Thài lài Commelinales (nhánh 4)
Bộ này trước đây chỉ sưu tập được hai cây: Thài lài và Cỏ đuôi lươn. Nhờ kinh nghiệm hơn ba năm sưu tập nay tôi đã tìm thêm được hàng chục cây khác nên sưu tập lại hoàn toàn.

Cỏ đầu rìu, Bích trai mồng - Cyanotis cristata, Chi Cyanotis, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)

Mô tả: Cây thảo mọng nước, phân cành nhiều, các cành lúc đầu bò lan trên mặt đất, sau vươn thẳng, đâm rễ ở các đốt, có lông. Lá thuôn, hình trái xoan hay trái xoan tròn dài 2-9cm, rộng 1-2cm, không có cuống, mọc sít nhau, màu tím ở mép, mặt dưới lá có lông lúc non. Cụm hoa thường mọc ở ngọn cành; lá bắc dạng lá, hình ngọn giáo và xếp lợp nhau thành hai hàng, màu tím, có lông dài ở mép; hoa màu lam hay đo đỏ. Quả nang gần hình cầu, đường kính 2-2,5mm; hạt hình trụ hoặc hình tháp, màu nâu đen, có vân ở mặt ngoài.
Nơi mọc: Loài phân bố ở nhiều nước châu Á và cả châu Phi. Ở nước ta, Cỏ đầu rìu thường mọc ở các nơi ẩm mát, ven khe suối trong rừng, trên các núi đá thành từng đám lớn. Cây cũng thường mọc trên đất cát, đất ráo, hoặc trên đất ven biển của các đảo (như đảo Phú Quốc). Thu hái cây quanh năm.

Công dụng: Là loài thức ăn của trâu bò và lợn. Có thể làm rau ăn cho người. Lấy ngọn non đem vò kỹ, thái nhỏ, luộc hoặc nấu canh ăn. Cũng được trồng làm cảnh ở các gia đình Campuchia; người ta gọi nó là Cỏ cánh vịt, liên hệ tới hình dạng của cụm hoa. Người ta dùng cây này để diệt sâu bọ và rệp...

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

2120- NHUM

















NHUM

Cây thân cột, dạng giống Cau
Lá nhiều, thòng, mầu hung nâu
Đọt dùng rau, xào ăn ngọt
Làm ván, cọc, gỗ đen màu.

BXP

Sưu tập

Nhum - Oncosperma tigillaria, chi Oncosperma, họ Cau - Arecaceae, 16- bộ Arecales Bộ Cau (nhánh 4

Mô tả: Cây thân cột dạng giống Cau, thường mọc thành bụi, có nhiều gai đen dài xếp thành hàng ngang. Lá nhiều, dài 3-4m, thòng xuống; bẹ lá và sống lá màu nâu hung, mang nhiều gai đen; các lá chét dài 40-60cm, rộng 1-2cm, treo, cách đều nhau, có 3-4 gân phụ cạnh gân chính. Cụm hoa phân nhánh nhiều, lúc đầu được bao trong một cái mo dài 30-40cm; hoa to 4mm, có 6 nhị. Quả hình cầu, đường kính 1cm, có vỏ quả mỏng, hoá sừng. Hạt 1, nhăn nheo.
Cây ra hoa quanh năm.
Nơi mọc: Loài phân bố ở Campuchia và Nam Việt Nam. Ở nước ta, cây Nhum mọc dựa rạch vùng nước lợ đến nước ngọt, dọc các rừng ven biển và ở bờ sông, nơi có bùn.
Công dụng: Gỗ cây màu đen, rất cứng, được dùng làm cọc chống, làm ván, làm cọc căng dù. Nhân dân thường lấy đọt non xào nấu làm rau ăn, có vị ngọt. Quả được sử dụng như quả Cau.


Hết Họ Cau - Bộ Cau.

2119- LÁ BUÔNG CAO





















LÁ BUÔNG CAO

Cây gỗ lớn, lá rộng hình khiên
Buồng hoa cao, rất lớn ở ngọn
Quả hạch to, hạt cứng như ngà
Cây cảnh đẹp công viên, biệt thự.

BXP

Sưu tập mới

Lá buông cao, Lá buông đỏ - Corypha umbraculifera, chi Corypha, họ Cau - Arecaceae, 16- bộ Arecales Bộ Cau (nhánh 4

Mô tả: Cây gỗ lớn, cao đến 25-30m. Lá rộng 5m, hình khiên, có cuống dài 3-4m, có rãnh với những gai ngắn, màu nâu, dẹp dính từng cặp, các đoạn của phiến nhiều đến hàng trăm, gấp nếp mạnh, cứng, hình dải ngọn giáo, chẻ đôi. Ðơn kỳ quả; buồng rất lớn, cao 5-6m ở ngọn. Quả hạch to đến 3,5cm.
Nơi mọc: Loài của Á châu nhiệt đới, phân bố ở Ấn Ðộ, Xri Lanca, Mianma, Inđônêxia. Ở nước ta, cây được trồng rải rác ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong các công viên hay dọc theo lối đi của một số biệt thự có vườn rộng.
Công dụng: Lá dùng trị đau đầu, phát sốt, ho.

Ở Ấn Ðộ, người ta dùng quả giã ra thành bột dùng để duốc cá. Hạt cứng như ngà, dùng làm chuôi, nút áo; thân cho nhiều bột màu nâu (100g mỗi cây) trước khi cây ra hoa; bột này ăn ngon.