Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

2128- RAU RƯƠI


(Sưu tập lại Bộ Thài lài)

RAU RƯƠI

Lá hình ngọn giáo dài, mọng nước
Hoa có mo bao bọc ở ngoài
Bầu ba ô, quả nang, hạt nhỏ
Trị mụn nhọt, sưng vú, mắt đau.

BXP

Sưu tập mới

Rau rươi, Trai hoa trần- Murdannia nudiflora, Chi Murdannia, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)

Mô tả: Cây thảo phân nhánh, nằm rạp ít hay nhiều, bén rễ ở các mấu, Lá hình ngọn giáo dài 10-30cm mọng nước. Cụm hoa có mo bao bọc ở ngoài, mang 1-7 hoa màu xanh lam. Hoa có 3 lá dài 3-7 cánh hoa, 2-3 nhị sinh sản và bầu 3 ô, mỗi ô 3 noãn. Quả nang, dài 2,5-5mm, hạt nhỏ hình thang có vỏ ngoài dạng mạng lưới. 
Ra hoa vào mùa hạ, thu.   
Nơi mọc: Loài phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Ở nước ta, thường gặp ven đường đi, ven rừng, ven suối, ven sông hay các thung lũng ở nơi ẩm mát. Thu hái toàn cây vào mùa hè, thu, rửa sạch, thái nhỏ, dùng tươi hay phơi khô dùng. 

Công dụng: Vị nhạt, tính ấm. Ngọn non có thể dùng làm rau ăn cho người. Gia súc cũng rất thích ăn, nhất là đối với bò trong thời kỳ cai sữa. Dùng làm thuốc trị rắn cắn, thũng độc, phổi nóng, ho thổ huyết, sưng vú, mụn nhọt lở ngứa, mắt đỏ sưng đau. Liều dùng 10-15g khô, sắc uống. Dùng ngoài lấy cây tươi tuỳ lượng, giã đắp.

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

2127- CÂY LƯỢC VÀNG



CÂY LƯỢC VÀNG

Cây thân thảo, cụm hoa trắng nhỏ
Tuyết trời Nga - nắng lửa xứ Thanh
Bao năm chữa bệnh quên mình
Lược vàng em đã trở thành thiết thân.

BXP

Sưu tập lại Bài 238

Cây lược vàng, hay Lan vòi, Lan rũ, Địa lan vòi - Callisia fragrans, chi Callisia lược vàng, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)

Mô tả: Cây thân thảo, màu xanh lục, mọng nước, có thể cao tới 1,5m; lá mọc so le, dài 20 - 30cm, rộng 5 - 7cm, đầu lá nhọn. Thân bồ non thường có màu nâu tím, hoa đường kính dưới 1cm, màu trắng, mùi thơm, tập trung ở các mấu của cuống cụm hoa phân nhánh có dạng chuỳ.
Nơi mọc: Theo tài liệu của Nga, cây có xuất xứ từ Nam Mỹ, được trồng làm cảnh trên thế giới đã hơn 100 năm, xuất hiện lần đầu tiên ở tỉnh Thanh Hóa vào cuối những năm 1990.
Công dụng: Theo một số thông tin dân gian, cây lược vàng có nhiều công dụng chữa bệnh, trong đó có một số bệnh khó chữa, một thời được coi là thần dược, nhưng nghiên cứu bước đầu của Viện Dược liệu cho thấy nó không giúp kháng khuẩn, chống viêm, thậm chí còn có độc. PGS.TS Trần Công Khánh, giám đốc Trung tâm nghiên cứu cây thuốc Việt Nam cho biết: "Cho đến thời điểm này (2013), Việt Nam chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về tác dụng sinh học, liều dùng và cả độc tính của cây lược vàng. Không rõ nó được đưa vào nước ta từ khi nào, nhưng trong các sách về hệ thực vật cũng như sách về cây thuốc Việt Nam thì không tìm thấy tên cây này".

Theo thông tin mới nhất, bài đăng hôm nay, 04/7/2014, TS. Trịnh Thị Điệp, đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, cây lược vàng - Callisi fragrans là cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian ở Nga và có thông tin cho rằng ở Nga loại cây này được dùng để chữa nhiều chứng bệnh như viêm đường hô hấp, viêm răng lợi, viêm đường tiết niệu, bệnh dạ dày, đau xương khớp đến các bệnh về tim mạch, huyết áp, thậm chí cả ung bướu... nhưng trên thế giới có rất ít các công bố khoa học về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cây lược vàng. Tại Việt Nam, cây lược vàng chưa được nghiên cứu mà chủ yếu mới chỉ được dùng chữa bệnh theo kinh nghiệm. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của nhóm thu được thật bất ngờ. Về kết quả thử tác dụng chống viêm cấp trên thực nghiệm với liều dùng tương đương với 50g dược liệu tươi/kg thể trọng chuột cho thấy lược vàng không có tác dụng chống viêm, thậm chí cao chiết cồn 50% từ thân lược vàng còn tăng phản ứng viêm. Về khả năng kháng khuẩn, trong 3 chủng vi khuẩn thường gặp, cao chiết của lá và thân lược vàng có tác dụng kháng khuẩn đối với Staphylococcus aureus nhưng phải ở nồng độ rất cao so với kháng sinh tham chiếu là azithromycin. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cao chiết lá và thân lược vàng còn có độc tính cấp, gây chết chuột thí nghiệm ở liều uống cao tương đương với từ 2.100g-3.000g dược liệu tươi/kg thể trọng. Qua kết quả nghiên cứu bước đầu này, nhóm nghiên cứu chưa thể khẳng định rằng người dân sử dụng với liều lượng 5 - 6 lá/ngày có bị ảnh hưởng đến sức khỏe hay không. Đồng thời, tuy các kết quả nghiên cứu dược lý ban đầu chưa làm sáng tỏ tác dụng chữa bệnh của cây lược vàng nhưng cũng đã cho thấy rằng lược vàng phải chứa các thành phần có hoạt tính sinh học mạnh thì mới có ảnh hưởng rõ đến chuột thực nghiệm. Vì thế cần phải tiến hành một nghiên cứu sâu hơn mới có thể đưa ra kết luận cuối cùng về vấn đề này. Do đó, TS. Điệp khuyến cáo khi các nhà khoa học chưa đưa ra kết luận cuối cùng về tác dụng chữa bệnh của cây lược vàng, người dân hãy thận trọng khi sử dụng loại cây vốn được đồn thổi là "thần dược" có thể chữa bách bệnh này. 

2126- THÀI LÀI TRẮNG


(Sưu tập lại Bộ Thài lài)

THÀI LÀI TRẮNG

Cây thảo mọc bò, không có lông
Lá dài, chóp nhọn, phiến xoan thon
Hoa xim, có cuống, màu lam, nhỏ
Vị nhạt, tính hàn, chữa lở, sưng.

BXP

Sưu tập mới

Thài lài trắng, Rau trai - Commelina diffusa, Chi Commelina, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)

Mô tả: Cây thảo mọc bò, có rễ ở các mấu, gần như không lông, có thân mềm dài 0,5-1,5m. Lá thon hay xoan thon, dài 2-6cm, rộng 1-2cm, chóp nhọn, bẹ có rìa lông. Mo rộng ở gốc ít khi có lông sát, trong mỗi mo có 3-5 hoa xếp thành xim có cuống. Hoa nhỏ, màu lam, rộng cỡ 1cm. Quả nang có 3 ô, chứa 5 hạt đen, vỏ hạt có mạng.
Nơi mọc: Loài của miền Viễn đông, mọc hoang ở chỗ ẩm ướt có đất tốt, từ miền đồng bằng tới vùng núi Trung du. Thu hái toàn cây quanh năm, có thể dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Công dụng: Vị nhạt, tính hàn. Dân gian dùng toàn cây giã đắp chữa bỏng, ghẻ lở, sưng tấy như Thài lài.

Ở Trung Quốc, vùng Vân Nam cây được dùng trị bạch trọc, mụn ghẻ; vùng Quảng Tây thì dùng trị lỵ, tiểu tiện bất lợi, ung sang thũng độc, ngoại thương xuất huyết.

2125- THÀI LÀI NƯỚC


(Sưu tập lại Bộ Thài lài)













THÀI LÀI NƯỚC

Cây thảo lưu niên, thân mọc đứng
Lóng dài, bẹ ống, có rìa lông
Cụm to, miệng rộng, hoa mầu tím
Ung sang thũng độc rất ưa dùng.

BXP

Sưu tập mới

Thài lài nước, Trai nước - Commelina paludosa, Chi Commelina, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)

Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm, mọc đứng, cao 45cm tới 1m, thân to 3-6mm, lóng dài 6-8cm, đâm rễ ở các mấu. Lá có ống bẹ dài 15-40mm, miệng có rìa lông; phiến dài 10-20cm, rộng 3-4cm có mũi. Cụm hoa có 2-10 mo, to, miệng rộng 2,5cm, hoa tím, dài 5-8mm, gắn trên xim 3-6 hoa, nhị sinh sản 3, nhị lép 3 hay không. Quả nang cao 3-4mm, chia 3 ô, mỗi ô 1 hạt.
Nơi mọc: Loài phân bố ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Malaixia. Ở nước ta, cây gặp ở nhiều nơi, trên đất ẩm lầy.
Công dụng: Ðược dùng trị ung sang thũng độc.

Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ trị nọc rắn; còn dùng trị chóng mặt, sốt và bệnh về mật.

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

2124- THÀI LÀI LÔNG


(Sưu tập lại Bộ Thài lài)


















THÀI LÀI LÔNG

Lưu niên, thân thảo, mọc bò lan
Lá mọc so le, bầu dục thuôn
Gần đất hoa vàng, lam nhánh đứng
Rau ă, chữa bệnh - Tính cây: Hàn!

BXP

Sưu tập mới

Thài lài lông - Commelina benghalensis, Chi Commelina, Họ Thài lài Commelinaceae, 17-bộ Commelinales Thài lài (nhánh 4)

Mô tả: Cây thảo sống lâu năm, mọc bò lan trên mặt đất, thân cành nhiều, dài tới 70cm hay hơn, có lông. Lá mọc so le, hình bầu dục thuôn, dài 8-12cm, rộng 3-3,5cm, chóp lá có đuôi, bẹ có rìa lông. Trên nhánh ở đất, hoa ngậm, vàng vàng, ở nhánh đứng, cụm hoa có vài chùm ít hoa, hoa lam có 3 nhị sinh sản. Quả nang cao 6mm, 2 ô 4 hạt.
Nơi mọc: Thài lai lông phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới của châu Á và châu Phi. Ở nước ta, cây mọc phổ biến ở khắp nơi, chỗ ẩm mát, trên các bãi đất hoang, hoặc ven rừng thưa, ven suối ẩm.
Công dụng: Vị đắng, tính hàn. Ngọn và lá non, vò kỹ, thái nhỏ, luộc hay nấu canh ăn; trâu bò và lợn cũng thích ăn rau này, nhất là trâu bò cái mới sinh.
Ở Ấn Độ, người ta dùng cây chữa bệnh phong hủi.

Ở Vân Nam (Trung Quốc) cây được dùng trị trẻ em viêm phổi, tiểu tiện bất lợi, mụn nhọt lở ngứa.