Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

B.282- GÀ LÔI TAI PHEASANT





 

Sưu tập :

Gà lôi tai Pheasant - Crossoptilon auritum, chi Crossoptilon, Họ Trĩ Phasianidae, Bộ Gà Galliformes

Gà lôi tai Pheasant - Crossoptilon auritum một loài chim lớn, dài đến 96 cm, toàn thân màu xanh-xám, với một ánh kim loại, đầu màu nhung đen, da mặt trần màu đỏ, màu vàng iris, lông tai dài màu trắng phía sau mắt và đỏ thẫm chân. Hai mươi bốn lông đuôi màu xám hơi xanh dài cong, rộng tối nghiêng. Cả hai giới đều tương tự, với những con đực lớn hơn một chút.
Gà lôi tai Pheasant được tìm thấy trên khắp núi rừng miền Trung Trung Quốc. Các chế độ ăn uống bao gồm chủ yếu là các loại quả mọng và các loài rau. (Dịch từ tiếng Anh)   

Nguồn: wikipedia &  Internet

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

B.281- GÀ LÔI VÀNG




 

 





Sưu tập :

Gà lôi vàng hay lôi Trung Quốc - Chrysolophus pictus, chi Chrysolophus, Họ Trĩ Phasianidae, Bộ Gà Galliformes

Các gà lôi vàng hoặc gà lôi Trung Quốc (Chrysolophus pictus) một loài chim trong Họ Trĩ. Nó có nguồn gốc rừng ở các khu vực miền núi phía tây Trung Quốc, nhưng quần thể hoang dã đã được thành lập tại Anh Quốc và các nơi khác. Chim trống dài 90-105 cm, đuôi chiếm hai phần ba của tổng chiều dài, đầu mầu vàng, ngực, bụng màu đỏ tươi, vòng gáy, cổ màu đen và màu da cam xen kẽ mà bao gồm tất cả các mặt ngoại trừ mắt màu vàng rực rỡ.
Con đực mào màu vàng với một chút màu đỏ ở mũi. Các khuôn mặt, cổ họng, cằm, hai bên cổ là gỉ tan. Các keo da quỹ đạo cả hai màu vàng, cổ áo hoặc áo choàng màu cam sáng. Sự trở lại phía trên là màu xanh lá cây các phần còn lại của lưng và mông màu vàng. Các đặc điểm khác của bộ lông nam lông đuôi trung tâm, màu đen đốm quế. Các lông đuôi phía trên là những màu sắc tương tự như những chiếc lông đuôi trung tâm. Các nam cũng một đỏ tươi, màu đỏ tươi và hai bên sườn hạt dẻ ánh sáng và phần dưới bụng. Chân và bàn chân thấp hơn là một xỉn màu vàng.
Chim cái ít sặc sỡ, với một bộ lông màu nâu đốm màu nhạt tương tự như của chim trĩ thường nữ. Cả nam và nữ chân màu vàng tiền vàng.
Chúng ăn hạt,
động vật không xương sống, nhưng họ ngủ trong đêm trên cây. Trong khi họ có thể bay, họ thích chạy. Nếu giật mình, đột nhiên họ có thể bùng nổ trở lên với tốc độ tuyệt vời và với một âm thanh cánh đặc biệt. (Dịch từ tiếng Hà Lan)  

Nguồn: wikipedia &  Internet

B.280- TRĨ AMHERST






 





Sưu tập :

Trĩ Amherst - Chrysolophus amherstiae, chi Chrysolophus, Họ Trĩ Phasianidae, Bộ Gà Galliformes

Trĩ Amherst - Chrysolophus amherstiae là một loài chim trong Họ Trĩ.
Các loài có nguồn gốc ở miền tây nam Trung Quốc và Miến Điện, nhưng đã được giới thiệu ở những nơi khác.
Chim đực trưởng thành dài 100-120cm, đuôi dài 80cm, đầu màu đen và bạc, đuôi dài màu xám, bộ lông cơ thể đỏ, xanh, trắng, màu vàng.
Chim cái ít sặc sỡ hơn, với một bộ lông màu nâu đốm màu nhạt hơn tất cả, tương tự như của chim trĩ thường. rất giống như gà lôi vàng nữ, nhưng một cái đầu đen tối phần dưới bụng sạch hơn so với gà mái của loài đó.
Chúng ăn hạt,
động vật không xương sống, nhưng hót trên cây vào ban đêm. Chim trống có một cuộc gọi cộc cằn trong mùa sinh sản. (Dịch từ tiếng Hà Lan)   

Nguồn: wikipedia &  Internet

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

B.279- TRĨ ĐỎ KHOANG CỔ







 

Sưu tập :

Trĩ đỏ khoang cổ - Phasianus colchicus takatsukasae, chi Phasianus,  Họ Trĩ Phasianidae, Bộ Gà Galliformes

Chim đực trưởng thành: Có đỉnh đầu và gáy nâu ánh xanh. Trán, dải hẹp trên mắt, cằm, họng và cổ đen ánh lục, xanh hoặc tím tùy góc nhìn. Phía dưới cổ có vòng trắng ngắt đoạn ở phía trước và sau. Các lông phần trên lưng có phần gốc nâu gụ thẫm, dải hẹp dọc ở giữa trắng nhạt mút lông đen, hai bên phiến lông viền hung nâu rộng. Ngực hung nâu đỏ, mỗi lông đều có vệt đen hẹp ở dọc thân lông và mút lông chia thành hai thùy tròn.
Lông vai có viền nâu ánh đỏ rộng, tiếp vào trong là dải đen rồi dải hung nâu nhạt, Phần giữa lông là vệt nâu rộng hay hung nâu lấm tấm đen. Lông ở lng và trên đuôi có phần mút nâu ánh xanh và phần trong của lông có vằn hung nâu nhạt và đen xen kẽ, làm cho các phần này có màu nâu ánh xanh lẫn với vằn ngang đen và hung nâu nhạt xen kẽ không đều. Đuôi màu vàng hơi ánh xanh, có vằn ngang đen ở giữa và nâu tím ở hai bên.
Hai bên mép lông đuôi giữa và mép ngoài của các lông khác nâu ánh tím lẫn ánh xanh. Cánh nâu có viền hay vằn nâu nhạt, bao cánh nâu ánh thép, hai bên mép lông nâu tím, phần giữa lông có vằn nâu nhạt. Bụng nâu thẫm có ánh đỏ nhất là phần trên bụng. Sườn vàng cam óng ánh, mút mỗi lông đều có vệt đen hình tam giác.
Chim cái: Đỉnh đầu và cổ nâu thẫm hay đen với những vạch ngang hẹp màu hung đỏ. Lưng và vai hung đỏ phớt nâu tím. Cằm và họng màu vàng xám có
vạch nâu thẫm. Phía trớc cổ và phần trên ngực có những vạch và chấm đen thô hơi óng ánh màu hồng tối. Phần dưới của ngực, sườn và bụng màu xám hung thẫm, với vân nâu tối và phần giữa lông màu nâu đỏ thẫm. Dưới đuôi nâu đỏ tối lẫn các vệt đen thô. Đùi nâu xỉn.
Mẳt nâu đỏ. Da trần ở mặt đỏ tươi. Mỏ và chân xám sừng.
Kích thước: Cánh (đực): 225 - 245; (cái): 195 - 215; đuôi (đực): 420 - 490, (cái): 246 - 272; giò: 70 - 75; mỏ: 28 - 32mm.
Phân bố: Phân loài trĩ đỏ này phân bố ở Đông nam Trung Quốc (Quảng Đông), Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh (thường gặp ở các đồi cỏ, guột tốt hay trong các rừng thông). Trĩ đỏ là loài chim đẹp và hiếm ở nước ta, cần được bảo vệ.

Nguồn: SVRVN T10.15, hình Internet

B.278- TRĨ ĐỎ








Sưu tập :

Trĩ đỏ - Phasianus colchicus, chi Phasianus, Họ Trĩ Phasianidae, Bộ Gà Galliformes

Mô tả: Đuôi dài và nhỏ. Bộ lông nhiều màu sắc đẹp. Chim đực trưởng thành đầu, họng và trước cổ xanh lục. Các phần còn lại nhìn chung có màu nâu hung đỏ, nâu vàng với các chấm đen. Phần dưới cơ thể tối hơn đặc biệt là ở ngực. Phần dưới cổ có vòng trắng ở phân loài 1 (P. c. takasukasae) và không ở phân loài 2 (P. c. rothschildi). Chim cái trưởng thành nhìn chung có bộ lông vằn nâu điểm các châm đen, giống nhau ở cả 2 phân loài trên. Mắt nâu đỏ. Da trần ở mặt đỏ tươi. Mỏ và chân màu sừng.
Sinh học: Ăn các loài ngũ cốc, hạt cỏ dại và côn trùng. Chim cái bắt được ngày 15/6/1965 đang thay lông ở giai đoạn đầu.
Nơi sống và sinh thái: Nơi ở thích hợp là vùng đồi núi thấp và trung bình có độ cao lên tới khoảng 800m, nơi có nhiều cây cỏ và cây bụi nhỏ hay rừng thông, không xa nương rẫy. Không gặp ở rừng rậm.
Phân bố: Việt Nam: Bắc bộ phân loài 1 ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, và phân loài 2 ở Lào Cai, Yên Bái, Bắc Thái (Bắc Cạn).
Thế giới: Đông nam Trung Quốc (phân loài 1 ở Quảng Đông, phân loài 2 ở nam Vân Nam) và Bắc Việt Nam
Giá trị: Là đặc sản quý hiếm ở nước ta. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng: Nơi ở tự nhiên bị mất, bị tác động mạnh và bị săn bắt. Tiếp tục nghiên cứu để bảo vệ, phục hồi và gia tăng số lượng.

Nguồn: SVRVN T10.14, hình Internet