Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

1.367- MỨC HOA ĐỎ



















MỨC HOA ĐỎ

Xim ngù, hoa đỏ như son
Lá hình giáo ngược, quả lông trắng dài
Hoa tháng tư, quả tháng mười
"Việt Nam-đặc hữu" được người quý yêu.

BXP

Sưu tập

Mức hoa đỏ, Lòng mức hoa đỏ, Chao - Wrightia dubia, chi Wrightia, phân họ Apocynoideae - Trúc đào, họ Apocynaceae - La bố ma, Bộ Long đởm Gentianales.

Mô tả: Cây nhỏ cao 1-2m, không lông. Cành non mảnh. Lá hình ngọn giáo ngược, có đuôi và tù ở đầu, có cuống rất ngắn, dài 7-19cm, rộng 2-5,5cm, dạng màng. Hoa đỏ son, xếp thành nhóm 3-4, ít khi 6, thành xim dạng ngù ở ngọn. Quả có 2 đại, dài 30cm, rộng 4-5mm, ít choãi ra, nhọn ở đầu, hơi hẹp và thót hẹp ở gốc, màu lục, khía dọc; hạt dài 14mm, rộng 2mm, màu nâu; lông màu trắng dài 2cm.
Hoa tháng 4-8, quả tháng 10-12.
Nơi mọc: Loài đặc hữu của miền Trung Việt Nam, từ Quảng Nam - Ðà Nẵng tới Khánh Hoà, Ðắc Lắc, Ninh Thuận.

Công dụng: Lá được nấu lên dùng làm thuốc uống lợi tiểu.

1.366- LÒNG MỨC



LÒNG MỨC

Lá nhẵn, không lông, cây gỗ nhỏ
Cụm xim thưa, hoa đỏ hay xanh
Vốn là loài đặc hữu Việt Nam
Vị ngọt, mát, thơm, chữa nhiều bệnh tật.

BXP

Sưu tập

Mức, Lòng mức, Lực mực, Thừng mực - Wrightia annamensis, chi Wrightia, phân họ Apocynoideae - Trúc đào, họ Apocynaceae - La bố ma, Bộ Long đởm Gentianales.


Mô tả: Cây gỗ nhỏ cao đến 4m, nhựa mủ trắng. Lá nhẵn, không lông, trừ lúc non; gân phụ 9-12 cặp; cuống 5mm, có lông sát. Cụm hoa xim thưa. Hoa đỏ hay xanh xanh; đài hoa 3mm, ống tràng 8mm, tai 12-16mm, miệng có 2 thứ vẩy. Quả đại 2, dài 15-20cm. Hạt dài 1,5cm, lông mào 4cm.
Nơi mọc: Loài đặc hữu của Việt Nam, mọc hoang ở nhiều nơi. Thu hái các bộ phận của cây quanh năm.

Công dụng: Vị ngọt, thơm, tính mát, không độc. Dùng chữa đau yết hầu, thương hàn, sốt rét. Cũng dùng chữa phong thấp viêm khớp và bệnh vàng da, xơ gan cổ trướng. Có thể uống như trà. 

1.365- DÂY HÒA LIỆT





















DÂY HÒA LIỆT

Trên trục cụm hoa nhiều lông hiện rõ
Lá bầu dục thuôn, nhọn, sắc ở đầu
Hoa trắng, thơm, quả đại, hạt xoan
Nhựa quả trị vết thương, vỏ dùng chữa sốt.

BXP

Sưu tập

Dây hòa liệt - Vallaris solanacea, chi Vallaris, phân họ Apocynoideae - Trúc đào, họ Apocynaceae - La bố ma, Bộ Long đởm Gentianales.

Mô tả: Dây leo có lông rõ nhiều hay ít trên cuống lá và dưới phiến lá, nhưng có lông nhiều trên các trục cụm hoa, lá bắc con, cuống hoa, đài và tràng. Lá bầu dục thuôn, nhọn, có khi thắt lại đột ngột và nhọn sắc ở đầu, thành góc ở gốc, dạng màng. Hoa trắng, thơm, xếp 3-6 cái thành xim ở nách lá. Quả gồm 2 quả đại thẳng, có mũi nhọn cứng, có gốc tròn, mở thành 4 van khi chín. Hạt dài 2-5cm, xoan, có mồng, kèm theo một mào lông ở đỉnh.
Hoa tháng 3-6.
Nơi mọc: Phổ biến ở Nam Việt Nam (từ Lâm Đồng đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long).

Công dụng: Nhựa mủ kích thích viêm tấy.Nhựa quả dùng bôi trị vết thương và các chỗ đau. Vỏ cây được sử dụng làm thuốc chữa sốt

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

1.364- BẠCH HOA ĐẰNG






















BẠCH HOA ĐẰNG

Lá trái xoan, đơn, nguyên,  mọc đối
Cụm hoa xim ở ngọn, trắng, thơm
Quả đại kép dài, hạt có mào lông
Vị đắng, tính hàn, trị đau lưng, tiêu nhọt.

BXP

Sưu tập

Lạc thạch, Mỏ sẻ, Bạch hoa đằng - Trachelospermum jasminoides, chi Trachelospermum, phân họ Apocynoideae - Trúc đào, họ Apocynaceae - La bố ma, Bộ Long đởm Gentianales.

 Mô tả: Dây leo sống nhiều năm mọc trườn dài 3m hay hơn. Lá mọc đối, nguyên, hình trái xoan nhọn, dài 2-10cm, rộng 1-4,5cm, màu lục bóng, mặt dưới nhạt màu hơn, nhẵn, dai, gân phụ 8-10 cặp; cuống dài 2-7mm. Cụm hoa xim ở ngọn hay nách lá. Hoa có cuống dài, màu trắng, thơm. Ðài hoa có tuyến ở trong, tràng hoa dạng phễu, ống tràng hình trụ, các thuỳ tràng xoắn quay về một phía. Có 5 tuyến ở gốc của bầu. Quả đại kép dài đến 20cm, hạt dài 13mm với một mào lông dài 3cm.
Hoa tháng 3-6, quả tháng 11-2.  
Nơi mọc: Ở nước ta cây mọc ở rừng núi đá vôi Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Thái, Hà Tây, Vĩnh Phú, tới Ninh Thuận ở độ cao 300m. Thu hái thân dây vào mùa đông, mùa xuân, thái ngắn, phơi trong râm.

Công dụng: Vị đắng, tính hơi hàn. Cành và lá dùng làm thuốc cường tráng có khả năng trị đau lưng mạnh chân gối, tiêu mụn nhọt, trị sưng đau bụng. Còn dùng làm thuốc trị đòn ngã tổn thương và trị ung thũng.

1.363- SỨ SA MẠC



SỨ SA MẠC

Dày dạn giữa khô cằn hoang mạc
Sừ Thái em momgj nước, bìu thân
Lá em khác Đị, mọc vòng
Hoa nhiều mầu sắc, người trồng bonsai.

BXP

Sưu tập

Sứ sa mạc hay sứ Thái Lan - Adenium obesum, chi Adenium - Sứ, phân họ Apocynoideae - Trúc đào, họ Apocynaceae - La bố ma, Bộ Long đởm Gentianales.

Mô tả: Cây bụi thân mọng, thường xanh, cao tới 1–3 m, phần gốc cây phình to. Lá mọc thành vòng xoắn, chụm lại thành cụm ở phía trên của ngọn cây, các lá đơn mép nhẵn, cấu trúc bóng như da, dài 5–15 cm và rộng 1–8 cm. Các hoa hình ống, dài 2–5 cm, với đường kính ngoài của phần trên khoảng 4–6 cm, có 5 cánh, tương tự như ở các chi có quan hệ họ hàng gần như chi Sứ trắng (Plumeria) và chi Trúc đào (Nerium). Hoa màu đỏ hay hồng, thường là có các mảng màu trắng ở phía trên ống hoa.
Nơi mọc: Cây Hoa Sứ thường được người Việt Nam gọi là sứ Thái, bởi phần lớn nó được du nhập vào nước ta từ Thái Lan trong vài chục năm trở lại đây. Cây Sứ Thái được trồng phổ biến ở các gia đình, thường có màu hồng nhạt và được nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Ngày nay, các giống sứ ở Việt Nam rất đa dạng, chúng không chỉ được nhập từ Thái Lan, mà còn được nhập từ Đài Loan, và một số giống được hình thành bởi chính các nghệ nhân Việt Nam. Sứ Thái không còn khái niệm là loài hoa 5 cánh nữa, mà thay vào đó là các giống sứ 10 cánh, 15 cánh với những màu sắc sặc sỡ lần lượt ra đời.

Công dụng: Sứ sa mạc là một loại cây trồng trong nhà phổ biến tại khu vực ôn đới. Chúng cần nhiều nắng và nhiệt độ tối thiểu về mùa đông là 10 °C. Chúng phát triển mạnh trong chế độ tưới ít nước, giống như các loài xương rồng. Nói chung chúng được nhân giống bằng hạt.