Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

B.46- BƯỚM PHƯỢNG HÊ LEN









Sưu tập :

B.46- Bướm phượng hê len  Papilio helenus

Đặc điểm nhận dạng:
Rất giống với Papilio nephelus nếu nhìn thoáng qua. Màu đen, cánh sau có ba đốm trắng lớn. Gần góc ngoài cánh sau có một hoặc hai đốm màu đỏ hình trăng khuyết. Khi bay trông rất giống với loài Bướm Phượng đen bốn mảnh trắng Papilio nephelus, có bốn đốm trắng ở cánh sau, mặt trên cánh sau không có đốm đỏ; mặt dưới mép cánh sau có 8 đốm đỏ tròn với 1 chấm đen ở giữa xếp liên tục theo mép cánh, trong đó có 2 đốm nằm ngang nhau ở gần mép trong của cánh. Vài loài khác có kiểu màu sắc tương tự như Papilio noblei, Papilio prexaspes nhưng hiếm hơn nhiều. Sải cánh: 110 - 120mm.
Sinh học sinh thái:
Loài này thường tụ tập hút chất khoáng ở ven suối cạn hay những vũng nước nhỏ trong rừng cùng với Papilio nephelus, Papilio protenor. Đôi khi gặp những cá thể đơn lẻ bay dọc theo các  con đường mòn trong rừng. Là loài khá phổ biến trong các khu rừng thường xanh còn tốt. Sâu non được ghi nhận là ăn một số thực vật thuộc họ Cam Rutaceae Cũng hay gặp từng cá thể đơn lẻ bay khá nhanh dọc các đường mòn trong rừng. Gặp khá phổ biến ở mọi độ cao trong rừng, quanh năm ở miền bắc (trừ đông giá) và mùa mưa ở miền Nam.
Phân bố:
Bắc Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, Lào, Malaixia, Việt Nam. Phân bố rộng rãi trên toàn Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài phổ biến và gặp nhiều hơn so với loài P.nephelus nhưng về sự hấp dẫn của chúng không kém vì chúng cũng to, đẹp. Đặc biệt chúng có giá trị nhiều cho bộ sưu tập bướm nên cũng dễ bị thu bắt với nhiều mục đích khác nhau như trao đổi, buôn bán… Do đó, nên bảo vệ nơi cư trú của chúng và hạn chế thu bắt.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.44- BƯỚM PHƯỢNG CAM









Sưu tập :

B.44- Bướm phượng cam  Papilio demoleus

Đặc điểm nhận dạng:
Là loài bướm Phượng dễ phân biệt nhất trong tất cả các loài bướm. Cánh có nền đen và các đốm trắng xanh. Cuối mép cánh sau có một đốm đỏ lớn. Bướm cái hơi lớn hơn và các đốm ngả sang màu vàng hơn so với bướm đực. Đây là loài bướm khó có thể bị nhầm lẫn. Bướm đực và bướm cái giống nhau. Sải cánh: 80-100mm.
Sinh học sinh thái:
Phổ biến khắp nơi, gặp quanh năm nhưng số lượng ít. Đẻ trứng trên các loài cây thuộc họ cam, chanh, quất và một số loài cây hoang dại khác. Sâu non tuổi nhỏ có màu sắc trông giống như phân chim, sâu lớn chuyển sang màu xanh với các đốm và vạch đen trên thân. Thường có màu xanh khi mới hoá nhộng, có màu như một đoạn cành cây khô khi sắp vũ hoá thành bướm. Chúng xuất hiện chủ yếu ở ven làng, vườn và công viên trong thành phố. Chúng bị hấp dẫn bởi một số cây hoa và cam chanh. Sâu non ăn một số cây thuộc họ Cam Rutasceae (các chi Cam, Chanh rượu, Quýt gai) và cả trên cây Táo - họ Táo Rhamnaceae và chi Phá cố chỉ - họ Đậu Fabaceae.
Phân bố:
Phân bố rộng rãi khắp nơi, cả trong các thành phố lớn. Phân bố phổ biến ở Srilanca, Ấn Độ đến Đông Dương và ở một số đảo thuộc quần đảo Sanda, New Ghine và Australlia. Đây là loài phổ biến ở khắp Việt Nam. Tên bướm được đặt do thường phổ biến trong các vườn cam, chanh.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Được coi là sâu hại trong ngành trồng trọt. Tuy nhiên chưa bao giờ thành dịch hại. Là loài có màu sắc đẹp sắc sỡ nên có thể nuôi với mục đích thu mẫu làm tiêu bản, làm tranh Đông hồ ghép cánh bướm để trao đổi, thương mại. Nhân nuôi chúng rất dễ dàng bởi cây chủ của chúng là cây trồng thuộc họ cam, chanh.

Nguồn : SVRVN &  Internet

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

B.43- BƯỚM PHƯỢNG CÁNH CHIM CHẤM RỜI








Sưu tập :

Bướm phượng cánh chim chấm rời Troides aeacus

Đặc điểm nhận dạng:
Là loài bướm vàng, đen với đầu đen, cổ đỏ, có những chấm đỏ trên cổ và ngực. Bụng có màu vàng ở phía dưới và màu vàng xen kẽ với màu đen ở phía trên. Con đực nhìn từ trên xuống thấy: Hai cánh trước màu nhung đen với đường viền hơi trắng vàng. Hai cánh sau màu vàng kim loại với viền màu đen cùng những hình tam giác thuộc mép cánh hướng đỉnh về phía gốc cánh; gần phía lưng những chấm đen hợp lại với nhau tạo thành đường viền biên bên trên nếp gấp phía bụng. Con cái nhìn từ trên xuống thấy: Hai cánh trước giống như ở con đực. Hai cánh sau cũng giống như con đực với sự cộng thêm một loạt các chấm đen bên trong và không dính liền với các chấm tam giác thuộc mép cánh. Con cái lớn hơn con đực. Sải cánh: 150 - 170mm. Loài này trong lúc bay nhìn rất giốngloài Bướm phượng cánh chim chấm liền Troides helena
Sinh học, sinh thái:
Ở nước ta có thể gặp ở vùng rừng rậm, mưa nhiều. Loài bướm này thường bay ra vào lúc bắt đầu có ánh nắng buổi sáng và buổi chiều tà, chúng bay với tốc độ vừa phải, không cao và hay đậu trên các bụi cây có hoa. Do đó chúng rất dễ bị vào vợt của người sưu tầm. Người ta đã nhìn thấy chúng bay thành đôi để giao phối vào buổi hoàng hôn của mùa hè. ở Thái Lan người ta đã nhân nuôi giống Troides thành công.
Phân bố:
Trong nước: Các vùng rừng ở Bắc Bộ và Trung Bộ: Bắc Kạn (Ba Bể), Vĩnh Phúc (Tam Đảo, Mê Linh), Ninh Bình (Cúc Phương). Đồng Nai (Cát Tiên, Mã Đà), Vũng Tàu (Núi Dinh), Chư Yang Sin, Konkakinh...
Thế giới: Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia.
Giá trị:
Thẩm mỹ, là loài bướm được mua với giá đắt và được coi là thuộc các loài bướm đẹp nhất thế giới.
Tình trạng:
Có phân bố rộng toàn quốc nhưng rất hiếm gặp, hiện đang là đối tượng bị thu bắt để trao đổi, buôn bán trong nước và trên thị trường quốc tế. Dự đoán số lượng cá thể bướm này ở một số nơi còn sẽ bị suy giảm mạnh do tốc độ phá rừng ẩm để xây dựng các công trình kinh tế .

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.42- BƯỚM PHƯỢNG CÁNH CHIM CHẤM LIỀN








Sưu tập :

Bướm phượng cánh chim chấm liền Troides Helena

Đặc điểm nhận dạng: Ở con đực nhìn từ trên xuống thấy: Đôi cánh trước màu nhung đen, với mép viền có màu hơi sáng. Đôi cánh sau phần lớn màu vàng rực rỡ với những chấm đen ở mép cánh; một hoặc vài chấm đen ở gần gốc cánh phía trước có thể bị cắt bớt. Con cái nhìn từ trên xuống thấy: Đôi cánh trước gần giống như ở con đực. Trên một phần của cánh sau, các chấm đen ở mép cánh có một hoặc một loạt chấm thuộc mép cánh trong không liền; Ngoài ra, một số chấm đen thuộc mép cánh ở vùng 2 và 3 không liên tục, những chấm còn lại dính liền với nhau, nhìn chung con cái lớn hơn con đực. Sải cánh: 140 - 170m. Loài này trong lúc bay nhìn rất giống loài Bướm phượng cánh chim chấm rời Troides aeacus
Sinh học, sinh thái: Ở nước ta có thể gặp ở vùng rừng rậm, mưa nhiều. Loài bướm này thường bay ra vào lúc bắt đầu có ánh nắng buổi sáng và buổi chiều tà, chúng bay với tốc độ vừa phải, không cao và hay đậu trên các bụi cây có hoa. Do đó chúng rất dễ bị vào vợt của người sưu tầm. Người ta đã nhìn thấy chúng bay thành đôi để giao phối vào buổi hoàng hôn của mùa hè. ở Thái Lan người ta đã nhân nuôi giống Troides thành công.
Phân bố: Trong nước: Gặp ở các vùng rừng ẩm nhưng không thường xuyên như: Vĩnh Phúc (Tam Đảo, Mê Linh), Ninh Bình (Cúc Phương), Quảng Trị (Tân Lâm), Đà Nẵng (bán đảo Sơn Trà).
Thế giới: Ấn Độ (Sikkim), Mianma, Trung quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia, Indonesia (Borneo).
Giá trị: Là loài bướm đẹp được các nhà sưu tầm ưa chuộng, các nhà buôn mua với giá đắt và được đánh giá là một trong các loài bướm đẹp nhất thế giới.
Tình trạng: Tuy là loài phân bố rộng toàn quốc nhưng rất hiếm gặp và chúng đã và đang là đối tượng bị thu bắt để trao đổi, buôn bán trong nước và trên thị trường quốc tế. Số lượng cá thể của chúng ở một số nơi còn sẽ bị suy giảm mạnh do tốc độ phá rừng.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.41- BƯỚM PHƯỢNG BỐN MẢNG TRẮNG








Sưu tập :

Bướm phượng bốn mảng trắng  Papilio nephelus

Đặc điểm nhận dạng : Là loài bướm phượng có kích thước lớn, có đuôi. Màu đen, cánh sau có bốm đốm trắng lớn. Khi bay trông rất giống với loài Bướm phượng đen ba mảnh trắng Papilio helenus, có ba đốm trắng ở cánh sau,nhưng ở góc ngoài mặt trên cánh sau không có đốm đỏ; mặt dưới mép cánh sau có các đốm vàng hoặc hơi trắng hình trăng khuyết. Vài loài khác có kiểu màu sắc tương tự như Papilio noblei, Papilio prexaspes nhưng hiếm hơn nhiều. Sải cánh : 105 - 130 mm.
Sinh học sinh thái: Thường tập trung thành từng đàn chung với loài Papilio helenus tại những khoảng trống có nước trong rừng. Cũng hay gặp từng cá thể đơn lẻ bay khá nhanh dọc các đường mòn trong rừng. Ở một số vùng loài này phân bố ở mọi độ cao và mọi nơi, nhưng phổ biến hơn ở các sinh thái cây bụi trảng cỏ và sinh thái nông nghiệp có độ cao dưới 700m.
Phân bố: Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia, Việt Nam. Phân bố rộng rãi trên toàn Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Là loài bướm to, đẹp, tuy phân bố rộng trên toàn lãnh thổ Việt Nam nhưng số lượng cá thể thấp và cũng là loài hay bị thu bắt để làm bộ sưu tập, trao đổi buôn bán. Cần bảo vệ tốt nơi cư trú của chúng là rừng tự nhiên và hạn chế săn bắt. Đây cũng là một trong những loài bướm nên nhân nuôi trong trang trại.

Nguồn : SVRVN &  Internet