Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

B.112- BƯỚM HẠI MAI







Sưu tập :

B.112- Bướm hại mai Neptis columella

Mô tả: Bướm đực và cái giống nhau mặt trên có màu đen với các dải màu trắng và những đốm trắng không đều ở mặt trên cánh trước. Mặt dưới cánh có màu nâu nhạt với các dải trắng giống như mặt trên cánh. Chúng thường bay thấp, đập cánh vài lần rồi xoè cánh ra và lượng một đoạn ngắn. Thoạt nhìn loài này rất giống với Bướm lính thủy Neptis hylas nhưng lớn hơn và cách bố trí các đốm trắng ở vùng chóp mặt trên cánh trước khác hơn. Đây là loài tương đối phổ biến ở bìa rừng và đám bụi cây, chủ yếu ở độ cao vừa và thấp. Cây thức ăn của sâu non là cây  Mai vàng Ochna integerrima thuộc họ Lão mai Ochnaceae hay các loài Cratoxylum ligustrinum, Pteroloma triqnetrum, Sageretia theezans, Sterculia lanceolata
Phân bố: Vùng phân bố từ Đông Nam Ấn Độ, lục địa Đông nam châu Á, phía Nam đến Sumatra, Borneo, Java, và Philippin. Gặp chủ yếu ở miền Nam Việt Nam nơi có cây Mai vàng Ochna integerrima phân bố. Tên loài đặt theo ấu trùng của chúng sống trên cây mai kí chủ.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.111- BƯỚM GIÁP NGỌC BÍCH







Sưu tập :

B.111- Bướm giáp ngọc bích Polyura delphis

Đặc điểm nhận dạng: Bướm có kích thước trung bình, Con đực và con cái có màu sắc, hoa văn khác nhau. Sải cánh: 90 -110mm. Con đực có bờ cánh trước phẳng, ỡ ngọn mặt trên cánh trước có màu đen và ở giữa mảng đen có một đốm màu trắng. Bờ cánh sau nhô ra thành đuôi nhọn ở gần 2,3,4 và có các hàng đốm màu đen hình liềm. Mặt sau dưới cánh sau có hoa văn sặc sỡ màu cam nhạt hình liềm và màu nâu đỏ, đen nằm ở phần bờ cánh. Gần gốc ac1nh co một đốm đen to nằm sát gờ cánh. Mặt trên của con cái có nhiều hàng đốm màu trắng chạy dọc phần mép cánh máu đen và mặt cánh dưới cũng có một mảng đen nằm sát  mép ngoài cánh sau. Mặt dưới có nhiều dải màu nhạt chạy dọc theo cánh sau và phần nép cánh màu nhạt hơn phân trên cánh.
Sinh học, sinh thái: Bay rất nhanh. Tập tính và nơi gặp tương tự giống Charaxes. Bướm cái đẻ trứng trên giống cây Sống rắn (Albizzia sp.), họ Đậu (Fabaceae). Cả bướm đực và bướm cái rất ít gặp ở rừng thứ sinh. Chỉ gặp ở rừng nguyên sinh còn tốt nơi gần suối. Bướm có cánh khỏe và bay nhanh. Chúng bị hấp dẫn bởi mùi quả thối, phân chim và động vật. Bướm tụ tập theo đàn lẫn với các loài bướm khác. Phân bố ở nhiều độ cao khác nhau trong các khu rừng còn tốt ở độ cao dưới 700m.
Phân bố: Từ Sikkim tới Mianma, Trung Quốc, Thái lan, Lào, Malaixia, Indonesia, Philippin, Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Là loài thường gặp và có phổ phân bố khá rộng. Có thể nhân nuôi loài này trong trang trại.

Nguồn : SVRVN &  Internet

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

B.110- BƯỚM HÌNH KHIÊN









Sưu tập :

B.110-  Bướm hình khiên Parthenos Sylvia

Đặc điểm nhận dạng:
Một loài có kích thước lớn và không thể nhầm lẫn. Mặt trên cánh có màu xanh lam, viền cánh đen, các đốm vệt đen chạy khắp cánh và ngang thân tạo ra dạng vằn vện rất đặc thù. Cánh trước có một dãy đốm trắng lớn chạy dọc mép, từ gần gốc đáy cánh đến gần chót cánh. Mặt dưới sáng màu, trắng bạc phớt xanh. Con đực và cái giống nhau, con cái có kích thước lớn hơn. Bướm có kiểu bay lướt nhanh lạ thường. Giống Parthenos chỉ có một loài, phân bố rộng trên Thế giới từ Sri Lanka, Ấn Độ cho đến Tân Guinea và quần đảo Solomon; có nhiều loài phụ khác nhau với các kiểu màu sắc rất khác nhau. Loài phụ ở Việt Nam là P.sylvia gambrisius. Sải cánh: 85-100mm.
Sinh học sinh thái:
Phổ biến nhưng không bao giờ gặp với số lượng lớn, cả trong rừng ở các độ cao khác nhau (thường thấy ven đường mòn) lẫn khu vực thành thị. Có cách bay rất đặc biệt: đập cánh nhanh vài lần rồi xoè cánh ra ở tư thế cụp xuống và lượn khá nhanh. Con đực có tập tính bảo vệ lãnh địa. Nó thường chiếm lĩnh một khu vực cạnh đường mòn, bay xuống đất hút chất khoáng ở gần đó, đánh đuổi mọi con bướm xâm nhập lãnh địa. Sâu ăn lá các loài dây leo như giống cây Thư diệp Adenia sp. thuộc họ Nhãn lồng Passifloraceae và dây Rễ gió Tinospora cordifolia thuộc họ Dây mối Menispermaceae. Có một vài thế hệ trong một năm, thế hệ mùa thu có số lượng nhiều hơn. Bướm trưởng thành hay gặp ở những vùng đất thấp, làng quê, trong vườn và công viên ở thành phố. Chúng bị hấp dẫn bởi một số loài thực vật có hoa như Bông ổi và Cỏ hôi. Sâu non sống ở trên cây Thư diệp Adenia sp. và  dây Ký ninh - Tinospora crispa. Loài không phổ biến. Sống ở mọi độ cao, trong các rừng thứ sinh, trảng cây, bụi cỏ, phổ biến ở các trảng cây bụi cỏ vùng thấp.
Phân bố: Đông Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia, và Việt Nam. Phân bố toàn Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài phân bố rộng nhưng ít gặp. Loài này to, đẹp có giá trị, có thể nhân nuôi dễ dàng bởi phổ sinh thái của nó rất rộng và đã biết các loài thực vật là thức ăn cho chúng. 

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.109- BƯỚM HỀ DẢI CAM

















Sưu tập :

B.109-  Bướm hề dải cam Symbrenthia lilaea

Đặc điểm nhận dạng:
Đây là một giống gồm các loài bướm rất nhỏ. Mặt trên màu nền đen với các dải màu vàng cam đỏ chạy ngang qua cánh. Kiểu màu sắc mặt trên cánh tương tự giống Pantoporia với màu nền đen và các băng ngang màu cam đỏ, tuy nhiên có thể phân biệt nhờ cánh sau có một đuôi ngắn. Cấu trúc cơ thể khác hẳn giống Pantoporia, với râu dài và thẳng, khối cơ vận động cánh phát triển, bay rất nhanh, khác hẳn cách bay chậm của giống Neptis, Pantoporia Lasippa. Mặt dưới vàng cam loang lổ sáng màu, góc ngoài cánh sau có các vẩy hơi trắng. Bướm đực và bướm cái giống nhau, tuy nhiên bướm cái lớn hơn. Sải cánh: 40-55mm.
Sinh học sinh thái:
Thường ra dọc đường mòn trong rừng để tìm chỗ hút chất khoáng. Bay rất nhanh, hầu như không quan sát được khi bay. Sâu của giống Symbrenthia ăn lá họ Gai Urticaceae. Chúng bay khá thấp và thích thảm rừng thứ sinh, cây bụi và nơi có ánh sáng mặt trời dọc theo những con đường và lối mòn hẹp trong rừng ở độ cao vừa và thấp, chúng xuất hiện theo mùa. Bướm bị hấp dẫn bởi nhiều loài cây có hoa. Bướm cái đẻ trứng trên cây Gai. Loài  khá phổ biến. Sống ở mọi độ cao, phổ biến ở vùng thấp trong các khu rừng thứ sinh, trảng cỏ bụi cây và vùng nông nghiệp. Ở độ cao dưới 700m, chúng còn sống ở các rừng nguyên sinh.
Phân bố:
Phân bố từ Ấn Độ đến Trung Quốc, Thái Lan, bán đảo Mã - lai và San-đơ-lan. Đây là loài phổ biến ở miền Bắc và miền Trung của Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Loài này nhỏ nhưng có màu sắc khá rực rỡ với hai màu rất nổi đen - cam đỏ. Loài có phổ phân bố rộng trên Thế giới nhưng không phân bố trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.108- BƯỚM GIÁP XANH NHẠT








Sưu tập :

B.108-  Bướm giáp nâu xanh nhạt Polyura arja

Đặc điểm nhận dạng:
Bướm có kích thước 45 - 55mm. Mặt trên cánh có màu nền nâu đen với một băng rộng màu xanh lơ chạy dài từ giữa cánh trước đến cánh sau. Gần chót cánh trước có 1 đốm màu xanh lơ lớn. Cánh sau có hai đuôi ngắn, nhọn, riềm cánh có một hàng chấm màu nâu viền trắng. bướm đực và bướm cái có thể dễ dàng gặp ở các khu rừng thứ sinh gần suối, bướm cái lớn hơn chút ít. Thân bướm rất mập, khoẻ, râu lớn, dài và có màu đen tuyền Bướm có cánh khỏe và bay nhanh. Chúng bị hấp dẫn bởi mùi quả thối, phân chim và động vật. Bướm tụ tập theo đàn lẫn với các loài bướm khác. Loài này rất giống với Polyura athamas.
Phân bố:
Vùng phân bố từ Ấn Độ và Srilanca qua Nam Trung Quốc và lục địa Đông nam châu Á đến Đài Loan và một số đảo thuộc quần đảo Sanđa. Loài này phổ biến khắp nơi ở Việt Nam. Bướm được đặt tên theo màu xanh và đốm nâu trên cánh.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài bướm có hình thù kỳ dị và màu sắc khá đặc biệt bởi các hoa văn được bài trí độc đáo. Chúng có phổ phân bố rộng gần như khắp châu Á.

Nguồn : SVRVN &  Internet