B.3.203- BƯỚM NÂU HOA OẢI HƯƠNG
![]()
![]()
![]()
![]()
Sưu tập :
6- Chi Tanaecia
B.3.203- Bướm nâu hoa oải hương – Tanaecia cocytus
Tanaecia cocytus là một loài bướm Quí tộc thuộc chi Tanaecia, Tông Adoliadini, Phân họ Limenitidinae Họ Bướm giáp Nymphalidae được tìm thấy ở Nam và Đông Nam Á.
Nguồn : Wikipedia & Internet
Blogger của Bùi Xuân Phượng - Một lão nông dân sinh năm 1938 yêu thơ, yêu thiên nhiên - - - - Địa chỉ: thôn Bình Phiên, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. - - - Email: buixuanphuong09@yahoo.com.vn ; buixuanphuong09@gmail.com
Thứ Tư, 29 tháng 7, 2020
B.3.203- BƯỚM NÂU HOA OẢI HƯƠNG
B.3.202- BƯỚM BÁO ĐỐM
B.3.202- BƯỚM BÁO ĐỐM
![]()
![]()
Sưu tập :![]()
5- Chi Neurosigma
B.3.202- Bướm báo đốm – Neurosigma siva
Bướm báo đốm – Neurosigma là một loài bướm Quí tộc thuộc chi đơn loài Neurosigma, Tông Adoliadini, Phân họ Limenitidinae Họ Bướm giáp Nymphalidae, được tìm thấy ở châu Á.
Nguồn : Wikipedia & Internet
B.3.201- BƯỚM GIÁP NGỌC CHÓT RÂU ĐỎ
B.3.201- BƯỚM GIÁP NGỌC CHÓT RÂU ĐỎ
![]()
![]()
![]()
![]()
Sưu tập :
B.3.201- Bướm giáp ngọc chót râu đỏ Lexias pardalis
Đặc điểm nhận dạng: Đây là loài bướm có kích thước lớn trong họ Nymphalidae có hầu hết các đặc điểm chung và tương tự như loài Lexias dirtea ngoại trừ màu sắc của chót râu. Con đực và cái khác nhau, con cái lớn hơn con đực. Cả con đực và cái thuộc loài này rất giống với một loài khác là Bướm Giáp ngọc lớn chót râu đen Lexias dirtea. Hai loài này cũng phân bố chung ở một số khu vực nên khó phân biệt bằng cách quan sát. Đặc điểm đáng tin cậy nhất để phân biệt hai loài chót râu phía ngoài của loài Lexias dirtea màu sậm gần như đen, trong khi ở L.pardalis là màu cam đỏ. Có một số loài bướm khá giống nhau ở Việt Nam, tuy nhiên Bướm Giáp ngọc lớn chót râu cam đỏ hay còn gọi là Bướm ăn quả thối được phân biệt bởi màu vàng cam đỏ của chót râu. Sải cánh: 80 -105mm.
Sinh học, sinh thái: Các loài trong giống Lexias phần lớn sống dưới tán rừng, hầu như không thấy bay ra các trảng trống. Cả con đực lẫn con cái đều thích hút dịch của các loại trái cây chín rữa. Chúng thuộc nhóm bướm cảnh giác, khó lại gần để quan sát. Con cái khi phát hiện người ở gần thường bay vào mép rừng dưới gốc cây lớn. Nếu người quan sát tiếp tục đi theo, nó không bay mất hẳn mà thường bay ra xa từng đoạn ngắn, len lỏi giữa các gốc cây. Con đực khi thấy người cũng bay vào dưới tán cây rừng, nhưng cũng có lúc nó bay ra xa dọc theo đường mòn. Cả bướm đực và cái đều bị hấp dẫn bởi mùi của lá và quả thối. Chúng bay nhanh gần mặt đất, đôi khi khó phát hiện ra chúng do mặt dưới của chúng giống như thảm lá. Sâu non sống trên cây Dọc (họ Bứa Clusiaceae).
Phân bố: Vùng phân bố khá rộng từ Ấn Độ đến Trung Quốc và Hải Nam, còn phía Nam qua Đông Dương và bán đảo Malaysia đến quần đảo San đa tới Philippin. Gặp khắp nơi ở Việt Nam. Bướm được đặt tên theo tập tính ăn quả thối rữa.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài phân bố rộng nhưng không dễ gặp. Chúng có thể dùng làm sinh vật chỉ thị cho rừng nguyên sinh còn tốt có nhiều lá, quả cây rụng trên nền đất ẩm ướt dưới tán rừng; đó là nơi sống và điều kiện thích hợp nhất với chúng. Có thể nhân nuôi loài này trong trang trại vì đã có cây thức ăn và lại là loài bướm Giáp to, đẹp và hiếm gặp.
Nguồn : SVRVN & Internet
Thứ Ba, 28 tháng 7, 2020
B.3.200- BƯỚM GIÁP NGỌC CHÓT RÂU ĐEN
B.3.200- BƯỚM GIÁP NGỌC CHÓT RÂU ĐEN
![]()
![]()
Sưu tập :![]()
B.3.200- Bướm giáp ngọc chót râu đen Lexias dirtea Đst B.82-
Đặc điểm nhận dạng: Giống Lexias trước kia được xếp vào giống Euthalia. Lexias dirtea là một trong những loài có kích thước lớn trong họ Bướm giápNymphalidae. Con đực và cái khác nhau, là loài dị hình. Con đực có mặt trên cánh đẹp một cách khỏe khoắn và khiêm tốn: gần mép và mép ngoài cánh trước màu đen xanh lục; nửa ngoài và mép ngoài cánh sau xanh dương với một hàng chấm gần mép và mép màu đen ánh xanh lục nhạt. Phần còn lại về phía gốc cánh trước và sau có màu đen với các chấm nhỏ cam đỏ, trắng rải thưa thớt dọc theo mép trên cánh. Con cái lớn hơn con đực có màu nền đen với các dải chấm nhiều màu sắc rải đều theo nhiều hàng lối trên cả 4 cánh, khi nhìn vào có cảm giác như các chuỗi hạt ngọc lung linh. Cả con đực và cái thuộc loài này rất giống với một loài khác là Bướm Giáp ngọc lớn chót râu cam đỏ đen Lexias pardalis. Hai loài này cũng phân bố chung ở một số khu vực nên khó phân biệt bằng cách quan sát. Đặc điểm đáng tin cậy nhất để phân biệt hai loài là chót râu phía ngoài của loài Lexias dirtea màu sậm gần như đen, trong khi đó ở Lexias pardalis là màu cam đỏ. Nửa ngoài cánh trước con cái L.dirtea có những đốm trắng to được bài trí gần với mép trên của cánh. Ở con đực Lexias dirtea và con đực cũng như con cái của loài Lexias pardalis không có các đốm trắng lớn như vậy ở cánh trước mà chỉ có những chấm nhỏ đều nhau màu trắng ngà hoặc vàng sáng. Sải cánh: 80 -105mm.
Sinh học, sinh thái: Các loài trong giống Lexias phần lớn sống dưới tán rừng, hầu như không thấy bay ra các trảng trống. Cả con đực lẫn con cái đều thích hút dịch của các loại trái cây chín rữa. Chúng thuộc nhóm bướm cảnh giác, khó lại gần để quan sát. Con cái khi phát hiện người ở gần thường bay vào mép rừng dưới gốc cây lớn. Nếu người quan sát tiếp tục đi theo, nó không bay mất hẳn mà thường bay ra xa từng đoạn ngắn, len lỏi giữa các gốc cây. Con đực khi thấy người cũng bay vào dưới tán cây rừng, nhưng cũng có lúc nó bay ra xa dọc theo đường mòn. Chúng thích sống ở rừng nguyên sinh nơi có những trảng trống trên độ cao tới 4000 fit. Một loài khác cũng có thể gặp chung với L.dirtea ở miền Nam là Bướm Giáp đen lớn chấm trắng Lexias albo-punctata. Con đực màu đen với hai chấm trắng rất rõ ở gần chót cánh. Con cái kích thước rất lớn, trông tương tự như con cái của hai loài trên, nhưng các vệt sáng màu ở cánh sau ngả sang xanh tím, cánh trước có các đốm màu trắng chứ không hơi vàng như hai loài kia. Sải cánh: 80-105mm.
Phân bố: Mianma, Thái Lan, Lào, Việt Nam. Phân bố toàn Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài phân bố rộng nhưng không dễ gặp. Chúng có thể dùng làm sinh vật chỉ thị cho rừng nguyên sinh còn tốt ở đó có nhiều lá, quả cây rụng trên nền đất ẩm ướt dưới tán rừng là nơi sống và điều kiện thích hợp nhất với chúng
Nguồn : SVRVN & Internet
B.3.199- BƯỚM QÚI TỘC CYANIPARDUS
B.3.199- BƯỚM QÚI TỘC CYANIPARDUS
![]()
![]()
![]()
![]()
Sưu tập :
B.3.199- Bướm Quí tộc Cyanipardus – Lexias cyanipardus
Lexias cyanipardus là một loài bướm Quí tộc thuộc chi Lexias, Tông Adoliadini, Phân họ Limenitidinae Họ Bướm giáp Nymphalidae. Nó được mô tả lần đầu tiên bởi Arthur Gardiner Butler vào năm 1869. Nó được tìm thấy ở vương quốc Indomalayan.
Nguồn : Wikipedia & Internet
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)