Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

B.102- BƯỚM DẢI TRẮNG CHÓP CAM








Sưu tập :
B.102-  Bướm dải trắng chóp cam Athyma nefte
Đặc điểm nhận dạng:
Mặt trên: con đực: vệt trung tâm cánh trước chia thành hai khúc rõ hoặc không rõ ràng,có hoặc không có những đốm ở phần giữa gần mép ngoài cánh, ở phía đỉnh màu đất son, nhưng dạng mùa mưa thì không có đốm này; con cái: có thể lưỡng hình hoặc không, với màu nâu cam, hoặc nâu socola, hoặc giống như con cái của Athyma cama, nhưng tất cả những khoảng trang trí như mặt trên  và có những đốm đen ở khu vực giữa gần mép ngoài cánh ở khoảng 4 và 5 là như nhau. Gần giống với Athyma cama về cách bài trí hoa văn và kích thước, có một điểm giống nữa là ở vùng đỉnh chót mặt trên cánh trước có một mảng màu đất son hay có thể gọi là cam đỏ, và các đường mảnh chạy theo đường mép ngoài cánh màu nâu vàng mờ. Tất cả các dải và đốm to, nhỏ khác ở mặt trên các cánh đều là màu trắng toát được bài trí nổi bật trên màu nền đen. Hoa văn và cách bài trí ở mặt trên con cái giống hệt như ở loài A.cama nhưng khác vì tất cả màu cam đỏ trên nền đen rất nổi trội, rực rỡ.
Mặt dưới có màu nền vàng đất son, hoa văn tương tự mặt trên, thêm vào đó là một loạt các đốm đen ở phần giữa cánh sau và ngoài ra ở góc chót cánh trước có màu đỏ lửa; các dải, chấm to nhỏ còn lại đều màu trắng. Sải cánh: 60 -70mm.
Sinh học sinh thái:
Thức ăn của sâu non là một số loài thực vật thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae như Glochidion zeylancicum hoặc Mussaenda frondosa thuộc họ Cà phê Rubiaceae
Phân bố:
Vùng phân bố từ Cambodia và Thái Lan và lục địa Đông nam châu Á. Loài này phổ biến khắp các cánh rừng ở Việt Nam. Bướm được đặt tên theo màu đen và đốm vàng cam trên chóp cánh trước.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Có phổ phân bố hẹp và hiếm gặp. Là một trong những loài bướm đẹp. Loài này có thể nhân nuôi trong trang trại.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.101- BƯỚM CHÚA HẠI CỌ DẦU







Sưu tập :

B.101-  Bướm chúa hại cọ dầu Amathusia phidippus

Đặc điểm nhận dạng:
Loài bướm có kích thước lớn, sải cánh từ 100 – 125mm, Mặt cánh trên có màu nâu chocolate đậm và có các dải nâu nhạt ở cả hai mép cánh. Mặt cánh dưới có màu nâu nhạt với các sọc màu nâu đậm, nhạt không đồng nhất. Cánh sau có hai đốm mắt khá lớn rất đặc trưng cho giống Bướm chúa Amathusia sp. Phần gốc cánh sau có một phần kéo dài thành đuôi ngắn. Phần chót đuôi có màu nâu đậm và có 2 đốm mắt hình bán nguyệt ở cả mặt trên lẫn mặt dưới.
Sinh học, sinh thái:
Là loài bướm ngày nhưng chúng thường xuất hiện và kiếm ăn vào chập tối và ban đêm. Bay chậm và ngắn, ban ngày thường đậu dọc theo thân cây. Do có tập tính bị thu hút bởi ánh sáng nhà nên có thể gặp ở trong nhà̀. Thức ăn của chúng là những loài quả thối trong khu vực phân bố. Sâu non ký chủ trên các loài thực vật thuộc họ Cau Arecaceae
Phân bố:
Gặp ở hầu khắp các khu vực có cây ký chủ của sâu non như Dừa Cocos nucifera, Cau Areca catechu, kể cả ở những thành phố lớn như Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là loài bướm hiếm gặp nên các nghiên cứu sâu về tập tính sinh thái của chúng vẫn còn nhiều bí ẩn đối với con người chúng ta.

Nguồn : SVRVN &  Internet

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

B.100- BƯỚM CÁNH VÂN HOA







Sưu tập :

B.100-  Bướm cánh vân hoa Junonia atlites

Đặc điểm nhận dạng: Không thể nhầm lẫn vì có màu nền xám trắng trong vùng đĩa cánh và các đốm mắt chạy dọc mép tất cả các cánh, một số đốm lớn nửa cam nửa đen, có các đường vạch xám đen chạy ở viền cánh và ô cánh trước. Con đực và cái giống nhau. Giống như các loài bướm hoa khác, loài bướm này có hai dạng tuỳ theo hình dạng của cánh và mẫu hoa văn mặt dưới cánh. Sải cánh: 55-65mm.
Sinh học sinh thái: Rất phổ biến ở các khu đô thị. Tập tính và nơi gặp tương tự J.almana. Được ghi nhận đẻ trứng trên giống cây Đinh lịch (Hygrophilalancea), họ Ô rô (Acanthaceae). Đôi khi bướm cái không đẻ trứng trên cây chủ mà trên một cành khô, một  cái lá héo hoặc một giá thể nào khác ở gần cây chủ. Sâu non sau khi nở ra hoặc mới nở bò sang cây chủ để ăn lá. Chúng xuất hiện ở những sinh cảnh tương tự loài J.almana.
Phân bố: Từ Ấn Độ đến Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia, và Việt Nam. Phân bố Toàn Việt Nam. Là loài có thể nói là phổ biến nhất trong số các loài thuộc giống Junonia - rất thường gặp và dễ thu bắt.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.99- BƯỚM CÁNH SỌC TRẮNG





Sưu tập :

B.99-  Bướm cánh sọc trắng Neptis clina

Đặc điểm nhận dạng: Mặt trên: màu đen với những điểm trang trí màu trắng. Cánh trước có vệt hình ngọn đuốc xuất phát từ gốc đến vùng giữa sát mép ngoài cánh, có một loạt các điểm trắng ở vùng giữa gần mép cánh nhưng không có ở khoảng 4, các đốm còn lại hướng ra viền trên cánh. Ở cánh sau, từ vùng giữa cánh trở ra hình thành một dải các đốm, kết thúc ở gân 7. Loài này giống như loài trên nhưng nhỏ hơn và mặt dưới màu đất nâu, không có đường viền tối màu trên các đốm. Ở khía cạnh khác nó giống như N.hylas, nhưng vùng lông mao ở khoảng 6,7 không có khoảng sáng. Mặt dưới: màu nâu đỏ tối, có các đường trang trí mờ với những màu tối hơn. Bướm đực và bướm cái như nhau. Sải cánh: 45-50mm.
Sinh học, sinh thái: Đây là loài tương đối phổ biến ở bìa rừng và đám bụi cây, chủ yếu ở độ cao vừa và thấp trong các trảng cỏ, bụi cây và khi xuống thấp dưới 700m còn bắt gặp chúng sống trong các khu rừng. Cây thức ăn của sâu non là Trắc thuộc họ Đậu Fabaceae.
Phân bố: Vùng phân bố từ Tây Trung Quốc, Đông Nam Ấn Độ, lục địa Đông nam châu Á, phía Nam đến Sumatra, Borneo, Java, và Philippin. Gặp mọi nơi ở Việt Nam. Tên loài đặt theo những sọc trắng trên cánh.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài bướm trong họ bướm giáp thường gặp và phổ biến nhất.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.98- BƯỚM CÁNH RỘNG






Sưu tập :

B.98-  Bướm cánh rộng Hypolimnas bolima

Đặc điểm nhận dạng: Kích thước tương đối lớn và dễ nhận diện.Mặt trên con đực có màu nền đen với mảng ở giữa cánh dạng "quả trứng" trên cả 4 cánh, ở chót cánh trước có một đốm trắng to và có một loạt các chấm trắng rất nhỏ chạy dọc theo gần mép ngoài của cả cánh trước lẫn cánh sau, con cái lớn hơn con đực. Bướm cái và bướm đực rất khác nhau về màu sắc và hoa văn trên cánh. Một số dạng có đốm hoa nhuốm màu xanh sẫm nhưng một số khác lại không có những đốm hoa này. Bướm cái bắt chước (mạo danh) loài Euploea corethuộc họ Bướm đốm Danaidae nhưng cánh to hơn với mép ngoài cánh trước hình lỏng chảo và mép ngoài cánh sau có hình vỏ sò. Sải cánh: 70-110mm.
Sinh học sinh thái: Gặp khắp nơi, thường thấy ở khu vực có cây bụi, những khoảng trống trong rừng, ven đường mòn; trong thành phố hay gặp ở những bãi trống có cây chủ. Con đực có tập tính bảo vệ lãnh địa, thường đậu trên một cành cây chìa ra ở một khoảng trống và đánh đuổi các con bướm khác bay vào khu vực của nó. Sâu ăn lá rất nhiều loại cây khác nhau thuộc họ Khoai lang Convolvulaceae và họ Ô rô Acanthaceace, Portulaca, Alternanthera sessilis. Trứng có khi được đẻ thành từng đám, chồng lên nhau. Sâu màu đen với các gai phân nhánh, đầu màu cam. Nhộng  màu nâu đen loang lổ, nguỵ trang dạng một mẩu lá héo hay cành khô. Loài này thường di cư. Cả bướm đực và cái bay gần rừng phục hồi thứ sinh và khu đất canh tác, chúng thường hút mật hoa. Những cây thức ăn khác thuộc các họ Rau rền và họ Khoai lang.            
Phân bố: Phân bố từ Đông châu Phi và Madagasca, qua các đảo trên Ấn Độ Dương và Ấn Độ đến Đông nam châu Á, Tân Ghi-nê và Australlia, phía Bắc đến Trung Quốc và các đảo phía Nam Nhật Bản. Phổ biến trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
H.bolina có rất nhiều loài phụ, phân bố rất rộng, từ Châu Phi đến Trung Quốc, châu Úc và khu vực Thái Bình Dương. Các loài phụ này rất khác nhau về màu sắc. Theo màu sắc thì loài phụ ở Việt Nam là H.bolina jacintha. Là loài thường gặp ở rừng núi. Loài thứ hai trong giống này có ở Việt Nam là H.misippus, hiếm gặp hơn. Con đực có thể phân biệt với H.bolina bởi mặt dưới cánh sau có một chấm đen ở sát bờ cánh. Con cái loài này bắt chước loài Danaus chrysippus.

Nguồn : SVRVN &  Internet