335- TỎI



TỎI
Em họ Hành, tên quê gọi: Tỏi
Được người yêu là bởi vì em
Có kháng sinh allicin
Sát trùng giải độc ... "thuốc Tiên" của người
BXP
Sưu tập
Tỏi tên khoa học Allium sativum L., chi Alium Hành,họ Hành Liliaceae, Bộ Liliales Loa kèn, bộ Hành.
Cây thảo sống nhiều năm. Thân thực hình trụ, phía dưới mang nhiều rễ phụ, phía trên mang nhiều lá. Lá cứng, hình dải, có rãnh khía, mép lá hơi ráp. Ở mỗi nách lá phía gốc có một chồi nhỏ sau này phát triển thành một tép Tỏi; các tép này nằm chung trong một cái bao (do các bẹ lá trước tạo ra) thành một củ Tỏi tức là thân hành (giò) của Tỏi. Hoa xếp thành tán ở ngọn thân. Bao hoa màu trắng hay hồng bao bởi một cái mo dễ rụng tận cùng thành mũi nhọn dài.
Hoa tháng 5-7, quả tháng 9-10
Thành phần chủ yếu của tỏi là một chất kháng sinh allicin - hợp chất sunfua có tác dụng diệt vi khuẩn rất mạnh đối với vi trùng Staphyllococcus, thương hàn, phó thương hàn, lỵ, tả, bạch hầu…
Tỏi có vị cay, tính ấm có tác dụng hành khí tiêu tích, sát trùng giải độc, ức chế các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh và có tính lợi tiểu nhờ vào các fructosan và tinh dầu.
Tỏi thường được dùng làm gia vị phi thơm giúp món ăn thêm mùi hấp dẫn, đồng thời là thuốc chữa bệnh đái đường, phòng ngừa trạng thái ung thư, giúp chống những bệnh như đau màng óc, bệnh xơ cứng động mạch, huyết áp cao...
Ðơn thuốc:
1. Cảm cúm: Ăn Tỏi và chế nước Tỏi nhỏ mũi. Mỗi lần dùng 1-2g Tỏi tươi. 2. Chữa lỵ amip, lỵ trực khuẩn: Ngày dùng 4-6g Tỏi sắc uống hoặc giã 10g Tỏi, ngâm vào 100ml nước nguội; trong 2 giờ, lọc bỏ bã, lấy nước thụt vào hậu môn, giữ lại độ 15 phút. Thụt mỗi ngày 1 lần. Ðồng thời ăn mỗi ngày 6g Tỏi sống chia làm 3 lần. Ðiều trị 5-7 ngày thì có kết quả.
3. Ung nhọt, áp xe viêm tấy: Giã giập Tỏi, đắp 15-20 phút (không để lâu dễ bị bỏng da). Có thể trộn với ít dầu Vừng mà đắp.
4. Chữa đầy bụng, đại tiểu tiện không thông: Giã Tỏi rịt vào rốn (cách ly bằng lá lốt hay lá trầu hơ héo), đồng thời lấy Tỏi giã giập bọc bông lại nhét vào hậu môn (Nam dược thần hiệu).
5. Trị giun kim, giun móc: Thường xuyên ăn Tỏi sống hoặc dùng nước Tỏi 5-10% 100ml, thụt vào hậu môn.
334- HÀNH
Cây Hành
HÀNH
Thân hành, hoa trắng hay nâu
Lá trụ rỗng, cụm hình đầu nhiều hoa
Vốn là gia vị mọi nhà
Em còn chữa bệnh... danh gia họ Hành!
BXP
Sưu tập
Hànhtên khoa họcAlium fistulosum L.,chi Alium Hành,họ Hành Liliaceae, Bộ Liliales Loa kèn, bộ Hành.
Cây thảo sống nhiều năm, cao tới 50cm, có thân hành nhỏ, trắng hay nâu, chỉ hơi phồng, rộng 0,7-1,5cm. Lá màu xanh mốc, hình trụ rỗng, có 3 cạnh ở dưới, dài đến 30cm, có bẹ lá dài bằng 1/4 phiến. Cán hoa (trục mang cụm hoa) cao bằng lá. Cụm hoa hình đầu tròn, gồm nhiều hoa có cuống ngắn; bao hoa có các mảnh hình trái xoan nhọn màu trắng có sọc xanh; bầu xanh đợt. Quả nang. Cây ra hoa vào mùa xuân, mùa hè.
Cây được trồng khắp nơi làm gia vị và làm thuốc.
Làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, chữa tê thấp, chữa cảm mạo, nhức đầu...
Hành là món gia vị ưa thích của nhiều người. Thành phần dinh dưỡng không phải là nguyên nhân chủ yếu khiến hành được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực; mà điều đặc biệt hơn đó là khả năng chữa bệnh của hành.
333- HOA TULIP

Hoa Tulip đỏ
HOA TULIP
I
Khát khao hiệp sỹ lừng danh
Mơ gươm no máu...nên thành mất em!
Nàng ôm gươm cắm trái tim
Máu nàng nhuộm đỏ.... mọc lên hoa này.
II
Có nàng Tulip chân quê
Điền chủ bắt cóc đem về dệt đan...
Quyết tâm trốn...thật gian nan
Chạy hoài kiệt sức...xác nàng thành hoa....
BXP
Sưu tập
Tulipahọ Liliaceae Họ Loa kèn, Bộ Liliales Loa kèn, bộ Hành
HOA TUYLIP có rất nhiều loài, không tìm được tên khoa học cụ thể, gọi chung là Tulip – Tuylipa, Còn gọi là Uất kim hương, có nhiều màu như vàng, đỏ thắm, tím, tía nhạt, tía thắm, hồng tươi… Hoa đơn, thanh tao, có dạng cốc rượu thánh, cũng có loài hoa nhiều cánh như French Parrot Tulip. Sống trong bình từ 5 – 7 ngày, khi cắm bình nhớ cắt chếch trên thân sữa, lau khô nhựa, ngâm ngập nước vào nước nguội, gói trong giấy để làm thẳng các thân cọng. Hoa mang ý nghĩa Lời bày tỏ của tình yêu.
Sự tích hoa Tulip có nhiều truyền thuyết, chỉ tóm lược hai truyền thuyết:
+ Có chàng trai rèn được thanh gươm quý, suốt ngày chỉ mê mẩn gươm được tắm máu để mình trở thành hiệp sỹ lừng danh, không hề biết có người con gái yêu chàng. Người con gái thấy chàng chỉ say mê gươm liền cầm gươm đâm thẳng vào trái tim mình, gươm đã được uống no máu nàng. Nhưng cũng từ đó mọi người đã xa lánh chàng, không ai nhận lời thách đấu với chàng...và rồi chợt nhận ra mình đã đánh mất điều quý giá nhất: tình yêu của nàng. Chàng thấy cô đơn và hối hận...đã cắm thanh gươm vào đất tuyết và gục xuống bên cạnh. Từ nơi thanh gươm mọc ra một cây hoa đẹp: Tulip.
+ Có cô gái quê tên Tulip bị tên điền chủ bắt cóc mang về bắt dệt thảm, sống trong những điều kiện nghiệt ngã, thiếu ánh mặt trời... Nàng đã nhờ bạn giúp đỡ trốn chạy, thương tích đầy mình..., bị tên điền chủ truy đuổi gắt gao..., nàng kiệt sức, gắng vùng dậy lao vào chân ngựa, ngựa ngã, tên điền chủ bị thương nặng, nàng đã lìa đời...Từ nơi xác nàng mọc lên một cây hoa đẹp...
Họ Loa kèn (Liliaceae),trước đây còn gọi là họ Hành (theo tên chi Allium). Các loài trong họ này có các lá thẳng, chủ yếu với các gân lá song song và các phần của hoa là ba đoạn.
Rất nhiều loài trong họ Liliaceae là các cây cảnh quan trọng, được trồng rộng khắp để lấy hoa rất đẹp của chúng. Phần lớn các chi là các loại cây có chứa chất độc nếu ăn phải. Họ Loa kèn trước đây bao gồm một lượng lớn (khoảng 130 chi) mà hiện nay người ta đã tách ra để đưa vào các họ khác và một số sang các bộ khác, hiện tại chỉ còn 17 chi, chỉ giới thiệu chi Loa kèn và chi hoa Tulip.
+ Chi Convallaria Lan chuông đã chuyển sang họ Ruscaceae và đã sưu tập hoa Linh lan ở bài 132
+ Chi Hành (Allium) là chi thực vật có chứa hành, tỏi với khoảng 1.250 loài, thông thường được phân loại trong họ Hành (Alliaceae) nhưng chưa sưu tập, nay sẽ ST. + Lilium là một chi thực vật thân thảo mọc từ củ. Phần lớn các loài có nguồn gốc ôn đới Bắc bán cầu với khoảng 110 loài. Đã giới thiệu hoa Bách hợp bài 148.
Hoa ở Đà Lạt gọi là Loa kèn hay Thuỷ vu thực chất là hoa Vân môn có nhiều mầu mà tôi đã nhầm ST hoa Huệ tây. Hoa Loa kèn thực sự thuộc chi Lilium, còn gọi Bách hợp, Huệ tây, có mặt trong bức tranh "Thiếu nữ bên hoa Huệ" của HS Tô Ngọc Vân. Hoa Thuỷ vu thực sự thuộc chi Calla L.
332- BÁCH HỢP SAN HÔ

Bách Hợp San Hô Lilium pumilum
BÁCH HỢP SAN HÔ
Em Bách Hợp San Hô thiếu nữ
Giữa nồng nàn nắng Hạ tươi xinh
Như Lily một dáng hình
Tháng Tư về lại lung linh sắc mầu.
BXP
Sưu tập
Bách Hợp San Hôtên khoa họcLilium pumilum, chi Lilium, họ Liliaceae Họ Loa kèn,Bộ Liliales Loa kèn, bộ Hành
Bách Hợp San Hô Lilium pumilum (Pháp gọi là Lys Corail) cũng giống như hoa huệ trắng Lily, (Bách Hợp, Loa kèn, tên Pháp là Lys), chỉ khác là màu đỏ.
hoa huệ trắng LilyLilium longiflorum
331- THỔ PHỤC LINH


THỔ PHỤC LINH
Thổ phục linh hay tên Khúc khắc
Dây leo, cành zíc zắc, hoa đơn
Giải độc, phong thấp, chống viêm
Là cây thuốc quý, giữ gìn Bậc V.
BXP
Sưu tập
Thổ phục linhtên khoa họcSmilax glabra, chi Smilax, Họ Smilacaceae Khúc khắc, Bộ Liliales Loa kèn, bộ Hành
Thổ phục linhcòn có tên là cây Khúc khắc, Vũ dư lương, Thổ tỳ giải, Sơn kỳ lương, thường mọc hoang ở rừng núi. Rễ củ được thu hái làm thuốc.
Dây leo, cành zíc zắc, nhẵn không gai. Lá đơn mọc cách, phiến lá hình mác thuôn, 3 gân chính, mép lá viền dày, dài 5 - 18cm, rộng 2 - 7cm. Hoa đơn tính khác gốc, họp thành tán ở nách lá. Hoa màu hồng hoặc điểm chấm đỏ.Nụ hoa gần hình cầu, 3 cạnh thô. Quả chín màu tím đen có phấn ở ngoài.
Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-12.
Cây mọc nhiều ở vùng rừng núi các tỉnh như Quảng ninh, Nam hà, Ninh bình, thường gặp ở ven đường trong các bờ bụi, trên các đồi trọc. Ta cũng thu hái rễ củ vào mùa hạ, mang về rửa sạch rồi phơi hay sấy khô
Cây thuốc qúy, thân rễ được dùng làm thuốc chữa phong thấp, gân xương co quắp đau nhức, tràng nhạc, ung nhọt, giải độc thủy ngân. Thân rễ có thể ngâm rượu với một số cây con khác làm thuốc bổ. Thân rễ của loài này được xuất khẩu với khối lượng lớn sang Lào.
Mức độ đe doạ: Bậc V.