Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

B.875- CẮT DƠI






Sưu tập :

Cắt dơi - Falco rufigularis, chi Falco Cắt, phân họFalconinae, họ CắtFalconidae, 13- Bộ Cắt Falconiformes

Cắt dơi - Falco rufigularis là một loài chim cắt trong họ Cắt (Falconidae). Loài này phân bố thường trú sinh sản ở vùng nhiệt đới Mexico, Trung và Nam Mỹ và Trinidad. Nó đã được biết từ lâu với danh pháp khoa học Falco albigularis; các tên gọi Falco fusco coerulescens hoặc Falco fuscocaerulescens, trong thời gian dài sử dụng để chỉ cắt Aplomado, nhưng hiện nay người ta tin rằng các tên gọi đó trên thực tế đã được dùng để chỉ loài này (AOU 1948).
Cắt dơi mái có chiều dài 30,5 cm, lớn hơn nhiều so với con đực dài 23 cm. Con trưởng thành có lưng, đầu và đuôi màu đen. Cổ họng, ngực và hai bên cổ màu trắng kem, phần ngực thấp hơn và bụng màu đen, trắng sọc dọc mịn, và đùi và dưới bụng màu da cam. Chim non là tương tự nhưng với một cổ họng màu da bò.
Loài chim săn mồi nhỏ và sẫm màu này sinh sống trong các khu đồng rừng thưa và các khoảng rừng trống. Cắt dơi đậu ở đầu các nhánh cây gãy trên cao, từ đó chúng thực hiện các cuộc tấn công trên không xuống con mồi. Chúng săn những con dơi, chim và côn trùng lớn như chuồn chuồn. Con trống nhỏ hơn ăn nhiều côn trùng hơn còn con mái thì săn nhiều chim và dơi hơn. Chúng bay thẳng và mạnh mẽ. Loài cắt này hoạt động một phần vào lúc chạng vạng, do dơi có trong chế độ ăn uống của nó. Nó đẻ 2-3 trứng màu nâu trong tổ không được lót trong một hốc cây.

Nguồn+ Hình: wikipedia & Internet

B.874- CẮT CỔ ĐỎ






Sưu tập :

Cắt cổ đỏ - Falco chicquera, chi Falco Cắt, phân họFalconinae, họ CắtFalconidae, 13- Bộ Cắt Falconiformes

Cắt cổ đỏ - Falco chicquera là một loài chim lá thuộc chi Cắt trong họ Cắt (Falconidae).
Loài này là một loài sinh sống rộng rãi ở Ấn Độ và khu vực lân cận cũng như châu Phi cận Sahara. Nó đôi khi được gọi là Turumti tại địa phương.
Cắt cổ đỏ có kích thước vừa, có cánh dài với một mào đỏ tươi sáng và sau gáy. Chúng có chiều dài trung bình 30–36 cm và sải cánh dài 85 cm. Con trống và con mái có bề ngoài tương tự, ngoại trừ kích thước: con trống nhỏ hơn con mái như các loài cắt khác.

Nguồn+ Hình: wikipedia & Internet

B.873- CẮT LƯNG XÁM





Sưu tập :

Cắt lưng xám - Falco columbarius, chi Falco Cắt, phân họFalconinae, họ CắtFalconidae, 13- Bộ Cắt Falconiformes

Chim đực trưởng thành: Trán, trước mắt, một dải hẹp trên mắt và hai bên đầu trắng nhạt với các thân lông đen phần saụ của dải trên mắt chuyển dần thành hung nhạt. Mặt lưng xám xanh nhạt, mỗi lông đều có vệt đen ở thân lông, Phần sau cá hung có vạch đen ở giữa lông. Đuôi có mút trắng và dải gần mút rộng đen. Lông màu nhạt, lông đầu tiên viền trắng, các lông tiếp theo viền xám và tất cả đều có vằn ngang trắng, các vằn này chuyển dần thành màu xám ở các lông cánh sơ cấp phía trong và các lông cánh thứ cấp. Cằm và họng trắng tinh. Hai bên họng, cò và mặt bụng trắng ít nhiều phớt hung và có vạch đen. Đùi và dưới đuôi thường hung thẫm.
Chim cái: Mặt lưng nâu phớt xám chì, mỗi lông đều viền hung và có thân thẫm. Vai và bao cánh có viền và vệt ở giữa lông. Đuôi có vằn ngang nâu thẫm và xám hung với mút đuôi trắng nhạt vâ dải gần mút nâu, rộng hơn các dải khác. Mặt bụng màu nhạt hơn chim đực và vạch nâu ở các lông cũng rộng hơn nhất là ở ngực và sườn. Các chim cái già giống chim đực, nhưng đầu thường có màu nâu hung với thânlông màu thẫm.
Chim non: Gần giống chim cái nhưng nhìn chung nâu hơn và có nhiều vạch hơn. Mắt nâu. Mỏ xanh xám với mút mỏ đen và gốc mỏ dưới vàng nhạt. Da gốc mỏ và chân vàng.
Kích thước: Cánh (đực): 196 - 204, cái:220 - 224; đuôi: 121 - 138: giò: 34 - 39; mỏ (đực): 14 - l5, cái: 15 - l6 mm.
Phân bố: Cắt lưng xám phân bố ở đông Bắc châu Á, mùa đông di cư xuống phía Nam ở Trung Quốc, Đông Dương, Miến Điện và Ấn Độ
Việt Nam chỉ mới bắt được Loài này ở Huế.

Nguồn : SVRVN T3.14, hình Internet

B.872- CẮT APLOMADO






Sưu tập :

Cắt Aplomado - Falco femoralis, chi Falco Cắt, phân họFalconinae, họ CắtFalconidae, 13- Bộ Cắt Falconiformes

Cắt Aplomado - Falco femoralis là một loài chim thuộc chi Cắt trong họ Cắt (Falconidae).
Loài này có kích thước trung bình, phân bố ở châu Mỹ. Phạm vi tiếp giáp lớn nhất của loài này là ở Nam Mỹ, nhưng không phải trong lưu vực sông Amazon sâu trong nội địa. Nó đã được biết từ lâu với danh pháp Falco fusco-coerulescens hoặc Falco fuscocaerulescens, nhưng những tên này được tin để chỉ tới loài cắt dơi (F. rufigularis).
Đây loài rất thanh mảnh, cánh dài, đuôi dài, kích thước cỡ như con cắt lớn (F. peregrinus) loại nhỏ, dài 30–40 cm với sải cánh dài trung bình khoảng 90 cm, nhưng trọng lượng chỉ bằng một nửa, khoảng 208-305 g ở con trống và 271-460 g ở con mái.

Nguồn+ Hình: wikipedia & Internet

B.871- CẮT MỸ






Sưu tập :

Cắt Mỹ - Falco sparverius, chi Falco Cắt, phân họFalconinae, họ CắtFalconidae, 13- Bộ Cắt Falconiformes

Cắt Mỹ - Falco sparverius là một loài cắt nhỏ, loài cắt duy nhất tại Mỹ. Nó là loài cắt phổ biết nhất Bắc Mỹ, và được tìm thấy tại nhiều loại môi trường sống. Với chiều dài 19–21 cm, nó cũng là loài cắt nhỏ nhất Bắc Mỹ. Chế độ ăn uống của nó gồm châu chấu, thằn lằn, chuột và các loài chim nhỏ. Nó làm tổ trên cây, vách đá, tòa nhà và các công trình khác. Con mái đẻ từ ba tới bảy trứng, cả con trống và mái đều giúp ấm trứng. Nó là loài thường dùng trong nghề nuôi chim cắt, đặc biệt cho người mới nuôi. Mặc dù không phải chim săn hung dữ như nhiều loài cắt khác, nuôi dạy đúng cách và kiểm soát cân nặng giúp chúng này trở thành chim săn hiệu quả.
Cắt Mỹ là loài cắt nhỏ nhất Bắc Mỹ, và theo phân loại truyền thống, là loài chim ăn thịt nhỏ nhất châu Mỹ. Chiều dài của loài chim này là 12 đến 27 cm với sải cánh 50–61 cm, con mái lớn hơn con trống. Con trống nặng 80–105 g, con mái nặng 100–120 g. Theo số đo tiêu chuẩn, xương cánh dài 16–21 cm, đuôi dài 11–15 cm và xương cổ chân là 3,2–4 cm.
Khác với các loài chim khác, dị hình giới tính của loài này ở bộ lông nhiều hơn ở kích thước. Con trống có cánh màu xanh-xám với đốm đen. Lưng màu đỏ hoe với sọc đốm. Bụng và hai bên sườn có màu trắng với đốm đen. Đuôi cũng màu đỏ hoe, mút đuôi màu trắng. Lưng và cánh của com mái màu đỏ hoe với sọc đốm nâu sậm. Mặt bụng của con mái màu kem với vàng sẫm với các vệt màu nâu đậm. Con chưa trưởng thành cũng có màu sắc giống con trưởng thành. Ở cả hai giới, đầu có màu trắng với trắng đen-xanh xanh. Ngoài ra còn có vạch hẹp, thẳng đứng màu đen ở mỗi bên của mặt.

Nguồn+ Hình: wikipedia & Internet