Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

B.117- BƯỚM HOA VÀNG






Sưu tập :

B.117- Bướm hoa vàng Junonia hierta

Đặc điểm nhận dạng:
Loài bướm này khá phổ biến. Mặt trên cánh trước ở vùng chóp cánh và vùng rìa cánh màu đen với hai mảng màu trắng ở đỉnh. Vùng giữa cánh là một mảng lớn màu vàng chanh, rìa cánh sau và phần gốc cánh màu đen, bên trong có một mảng màu xanh ngọc lấp lánh, phần đĩa cánh còn lại có một mảng màu vàng to trải rộng đến sát mép ngoài cánh. Vùng giữa cánh là một mảng màu vàng nhạt có hình cầu thủ đang đá bóng. Rìa cánh sau và phần gốc cánh màu đen nhưng ở giữa mảng đen này có một mảng nhỏ tròn như quả bóng màu xanh ngọc lấp lánh. Một mảng màu vàng nằm ở phần đĩa cánh hình con sâu non. Ở con cái ở vùng màu vàng cánh trước có một đốm tròn to màu xanh dương viền đen. Cánh sau có 2 đốm đen tròn nhỏ nằm trong vùng màu vàng của cánh. Mặt dưới cánh có màu vàng nâu nhạt với các hoa văn nhạt màu và có một đôi mắt ở cánh trước. Khi bị động loài này bay nhanh và thường bay đi một khoảng khá xa rồi mới đậu.  Sải cánh: 50-70mm.
Sinh học sinh thái:
Thường thấy ở các đồng cỏ và bụi rậm. Loài này khá phổ biến ở các vùng trảng cỏ, bãi trống bìa rừng trong các khu rừng thứ sinh và lên đến độ cao 1200m. Cây ký chủ của sâu non là các loài thuộc họ Ô rô Acanthaceae Barleria crista, Asteracantha longifolia
Phân bố:
Sikkim, Mianma, Trung Quốc, Hải Nam, Thái Lan, Lào, Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Tương tự như loài J.orithya, đây cũng là một loài có màu sắc có thể gọi là đẹp nhất nhì trong giống Junonia với các hoa văn bài trí rất ấn tượng, nổi trội.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.116- BƯỚM HOÀNG TỬ ĐEN








Sưu tập :

B.116- Bướm hoàng tử đen Rohana parisatis

Đặc điểm nhận dạng:
Con đực: mặt trên có màu đen vẹt. Được rắc một đốm trắng nhìn như tuyết dính ở mép trên cánh trước, lông mao ở cả hai cánh màu trắng và đen. Mặt dưới màu nâu hơi đỏ tía, gốc cánh và dọc theo viền trên cánh trước là màu gỉ sắt. Cả hai cánh: có những đốm đen ở vùng giữa cánh, đi theo là những điểm trang trí hình tai và những dải không đều có kích thước trung bình xuyên suốt cả hai cánh; màu tối và được trang trí bên ngoài bằng các viền đục và đứt quãng màu lilacine, vượt xa vùng giữa cánh là những đường ngang màu tối kéo theo là đường viền tối ở sát mép ngoài cánh màu đỏ tía. Cánh trước có các đốm sáng trắng sát mép trên lớn hơn. Cánh sau được điểm bằng các đốm đen nhân trắng ở sát mép trên cánh. Râu, đầu, ngực, lưng, bụng màu đen, ở dưới có màu nâu tối. Con cái : có mặt trên màu nâu vàng nhạt. Nửa vùng giữa của hai cánh có màu nền, các nét trang trí màu nâu tối hơn các nơi còn lại, các dải lớn trung bình nằm ngang khá góc cạnh, và một bóng màu nâu ở giữa phía sát mép ngoài cánh. Cánh sau được trang trí bằng một loạt các đốm tối xỉn nằm ngang, cánh trước được điểm bằng ba, bốn hoặc hơn các đốm nhìn giống tuyết trắng ở góc trên cánh, một loạt các đốm hình bán nguyệt tối trang trí cho cả hai cánh, theo sau là các đường viền sát mép ngoài cánh. Mặt dưới màu nâu vàng nhạt, trang trí đôi khi giống như mặt dưới của con đực, nhưng sáng hơn. Râu, đầu, bụng, ngực có màu nâu sáng, nâu nhạt khi xuống thấp. Sải cánh : 45-50mm.
Sinh học sinh thái:
Loài này sống ở độ cao dưới 700m, phổ biến trong các khu rừng thứ sinh, hiếm hơn một chút ở các khu vực trảng cỏ bụi cây, và khá hiếm khi ở sinh thái nông nghiệp. Thức ăn của sâu non là loài thực vật: Celtis lycodoxylon.              
Phân bố:
Trung Quốc, Lào, Việt Nam
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Loài có phổ phân bố hẹp và hiếm gặp.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.115- BƯỚM HOA NÂU






Sưu tập :

B.115- Bướm hoa nâu Junonia lemonias

Đặc điểm nhận dạng:
Rất dễ nhận biết với mặt trên màu nâu, có hai đốm mắt lớn viền cam trên cánh trước ở khoảng 2 và ở khoảng 5 và 6 của cánh sau. Nửa ngoài cánh trước sậm màu hơn với các đốm trắng vàng. Viền sát mép ngoài có màu đỏ cam phân đốt trên cả 2 cánh. Mặt dưới sáng màu hơn, dạng mùa mưa có màu nâu vàng nhạt. Dạng mùa khô có mặt dưới cánh sáng màu hơn và hơi đỏ, mép góc cạnh hơn. Con đực và cái giống nhau nhưng con cái to hơn và màu nâu nhạt hơn một chút. Sải cánh: 45-60mm.
Sinh học sinh thái:
Thường gặp ở rừng thứ sinh, bãi trống có cây bụi, cỏ, vườn hoa. Tương đối phổ biến ở các thành phố. Phổ biến nhưng không hay gặp như Junonia almana và Junonia atlies. Sâu được ghi nhận ăn lá các loại cây thuộc họ Ô rô Acanthaceae và trên cây Lepidogatis incurva.              
Phân bố: Phân bố rộng trên toàn vùng từ Ấn Độ đến châu Úc (Sikkim, Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia, Việt Nam). Phân bố rộng trên toàn Việt Nam.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.114- BƯỚM HOA ĐUÔI CÔNG








Sưu tập :

B.114- Bướm hoa đuôi công Junonia almana

Đặc điểm nhận dạng:
Một trong những loài phổ biến nhất thuộc họ này. Mặt trên màu cam đỏ rất đặc thù với hai đốm mắt lớn, một ở cánh trước và một ở cánh sau, bờ cánh trước có những vạch đen. Viền cánh sậm màu và có các đường ren. Mặt dưới thay đổi theo mùa. Dạng mùa mưa có các đốm mắt rõ ràng; ở dạng mùa khô các đốm mắt tiêu giảm, chót cánh trước và góc ngoài cánh sau kéo dài ra trông giống lá khô, giúp con bướm nguỵ trang rất tốt. Con đực và con cái giống nhau. Sải cánh: 60-65mm.
Sinh học sinh thái:
Gặp khắp nơi, rừng núi, nơi quang đãng, trong các thành phố lớn, công viên, vườn hoa... khá phổ biến. Phân bố ở độ cao dưới 1.200m, phổ biến hơn khi xuống thấp chủ yếu xuất hiện ở các trảng cây, bụi cỏ, khu nông nghiệp và khu rừng thứ sinh. Sâu ăn lá nhiều loài cây bụi khác nhau thuộc họ Ô rô Acanthaceae, một trong những loài cây chủ phổ biến ở phía Nam là cây Trái nổ - Ruellia buberosa. Các cây chủ khác còn là : Acanthus sp., Gloxinia sp., Osbeckia sp., Hygrophila lancea. Sâu màu đen với các gai ngắn phân nhánh đặc trưng cho họ buớm Giáp.              
Phân bố: Xây lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Hải Nam, Tiểu vùng Malaixia, Việt Nam. Ở Việt Nam phân bố toàn Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là một trong những loài thường gặp nhất của họ Bướm Giáp nhưng không dễ thu bắt và ít gặp hơn loài J.atlites. Là loài có mặt dưới ngụy trang như chiếc lá khô khi bướm đậu khiến kẻ thù rất khó phát hiện ra chúng.

Nguồn : SVRVN &  Internet

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

B.113- BƯỚM HIỆP SỸ








Sưu tập :

B.113- Bướm hiệp sỹ Lebadea martha

Đặc điểm nhận dạng: Giống Lebadea cũng có một loài với các loài phụ khác nhau trong khu vực Đông Nam Á. Kiểu màu sắc trên cánh rất khác nhau với các loài khác tương tự Moduza procris,  nhưng nền màu sáng hơn và khác biệt rõ rệt bởi dãy đốm trắng tạo thành băng ở hai cánh khá hẹp, đồng thời phần chót cánh trước thuôn dài, hơi uốn ra ngoài và phớt trắng. Màu nền mặt trên cánh đỏ nâu đằm thắm, ngoài các dải đốm màu trắng ra còn có các hàng chấm và đường màu đen, chạy song song với mép ngoài các cánh và gốc các cánh, các mép cánh ánh màu xanh lục. Ở con cái, chót cánh trước ít uốn cong ra hơn và không trắng rõ như ở con đực, đồng thời dải băng trắng trên cánh hẹp hơn so với con đực, kích thước to hơn con đực. Sải cánh: 60-65mm.
Sinh học sinh thái: Khá phổ biến nhưng chỉ xuất hiện từng cá thể, thường gặp dưới tán rừng thứ sinh, dọc đường mòn, gặp ở cả khu vực gần thành phố, nơi có các trảng cây bụi. Thuộc dạng khó lại gần. Có tập tính bảo vệ lãnh địa. Phân bố ở độ cao dưới 1.200m, trong các khu rừng thứ sinh và ở độ cao dưới 700m còn gặp ở các khu rừng nguyên sinh.
Phân bố:
Phân bố từ Ấn Độ đến Trung Quốc và Philippin,  phía Nam đến quần đảo Sunda new Ghine và quần đảo Salomon. Đây là loài phổ biến khắp nơi ở Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Tuy phân bố rộng nhưng không thường gặp. Cũng là một trong các loài bướm Giáp có màu sắc đẹp, chắc và khỏe.

Nguồn : SVRVN &  Internet