Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

B.191- BƯỚM NÂU HAI ĐỐM VÀNG
















Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng:
Ngoài các đặc điểm chung của giống, loài này có các đặc điểm sau: Mặt trên: con đực có màu nâu tới màu đất son; con cái : cánh trước có dải sát đỉnh trên màu vàng rõ hơn ở con đực. Mặt dưới: con đực và cái có cánh trước có đường giữa cánh cong về phía trước, ở cả hai cánh, đốm nhỏ với các cỡ lớn nhỏ khác nhau và có màu vàng. Bướm cái và đực giống nhau nhưng bướm cái thường lớn hơn. Loài này lớn hơn loài Faunis canens, thậm chí lớn hơn rất nhiều.
Sinh học sinh thái: Đặc điểm chung: Chúng xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 12 và thích độ cao vừa và thấp. Bướm này khá phổ biến ở rừng cây gỗ và rừng thứ sinh, ở đó chúng bay gần mặt đất. Sâu non ăn lá cây Tỏi đá họ Tóc tiên, Chuối  họ Chuối Musaceae, và cả những cây thuộc họ Kim cang  như Smilax lanceifolia, Phoenix hanceana và họ Dứa dại Pandanaceae.
Phân bố: Phân bố ở Nam Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Việt Nam. Đây là loài phổ biến ở miền Bắc và Trung Việt Nam. Phân bố ở độ cao dưới 700m, trong các khu rừng. Tên bướm được đặt vì có màu nâu và có dải chấm to ở trên cánh.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Bướm to, đẹp màu sắc vàng rực và thường sống ở các khu rừng còn tốt nên rất cần quan tâm bảo vệ rừng, nơi sống và các loài thực vật ký chủ của sâu non và nhộng.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.190- BƯỚM NỮ THẦN VÀNG







Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng: Mặt dưới 2 cánh có màu nâu nhạt, các gân 8,9,10 phát sinh từ gân 7 và gân 11, gân 12 nối nhau và hướng tới viền trên ở khoảng giữa. Đỉnh cánh trước nhọn và kéo dài. Mặt trên bướm có màu nâu đồng, chót cánh trước có mảng màu nâu đen. Khi đậu chúng thường khép cánh nên thường không nhìn thấy mặt cánh trên.
Sinh học, sinh thái:
Loài này chỉ gặp sống trong các khu rừng tự nhiên. Không phổ biến. Sống ở độ cao dưới 1.200m, nhiều hơn khi xuống thấp ở các khu rừng nguyên sinh. Khi xuống thấp dưới 700m còn thấy chúng sinh sống ở các khu rừng thứ sinh. Đây là loài bướm rất hiếm gặp.
Phân bố: Loài có vùng phân bố rộng từ Ấn Độ đến Bhutan, Assam, Manipur, Burma và Tây nam Trung Quốc. Ở Việt Nam loài này sống ở các tỉnh phía Bắc.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.189- BƯỚM NỮ CHÚA RỪNG







Sưu tập :


Mô tả: Là loài bướm đẹp với màu vàng cam. Bướm đực thường lớn hơn Chúng có kích thước rất lớn. Bướm đực thường lớn hơn. Bướm trưởng thành thích rừng thứ sinh, bìa rừng có tán râm và rừng nguyên sinh ở những độ cao khác nhau. Chúng hoạt động tích cực vào buổi sáng và trước hoàng hôn.
Nơi sống, sinh thái: Sống trong rừng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh và rừng tre nứa ở độ cao vừa phải (800 - 1000m). Xuất hiện theo mùa vào cuối mùa khô. Qua các năm, loài này được phát hiện khá phong phú tuy nhiên mật độ quần thể biến động. Cá thể trưởng thành bay rất gần mặt đất và thích hoa quả thối rữa và phân động vật. Có thể là sâu non ăn lá cây Diệp vĩ - Spodiopogon cotulifer (họ Cỏ Poaceae) và cây Cọ núi Trachycarpus fortunei ở Trung Quốc.
Phân bố: Phân bố ở Bắc Việt Nam, Nam Trung Quốc. Bướm này chỉ thấy xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam, chúng xuất hiện theo mùa khá phổ biến (tháng 5 đến tháng 8) ở Vườn quốc gia Tam Đảo. Tên bướm dịch theo nghĩa từ tiếng Anh.

Nguồn : SVRVN &  Internet

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2017

B.188- BƯỚM KIM CƯƠNG HUYỀN THOẠI






 Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng:
Mặt trên con đực: màu nền cánh là màu nâu sẫm ở cánh trước và cánh sau, cánh trước có một vùng màu xanh lam rất lờn nằm ở phần giữa cánh. Cánh sau có thuỳ ngắn gần tròn với đốm mắt rất rõ. Mặt dưới cánh có màu nâu sáng và những sọc màu nâu thẫm, cánh sau có 2 đốm mắt to gần tròn, giữa đốm mắt màu trắng. Con cái  nhỏ hơn con đực.
Mặt trên con cái: màu nền cánh là màu nâu sẫm ở cả cánh trước và cánh sau, rìa mép cánh có màu nâu nhạt. cánh trước có một vùng màu trắng lớn và những đốm trắng không đều xung quanh. Mặt dưới cánh có màu nâu sáng và một sọc màu nâu thẫm nằm ở giữa chia đều hai bên.
Chúng thường đậu ở các vũng nước trong các khu rừng còn chưa bị con người tác động, thường gặp vào sáng sớm và buổi chiều tối. Khi bị động chúng thường bay một đoạn khá xa và đậu vào những thân cây lớn. Chúng thường khép cánh lại nên rất khó phát hiện. Tên bướm được đặt theo màu của gân cánh.
Sinh học, sinh thái: Loài hiếm gặp vì chúng sống sâu trong các khu rừng còn tốt và thường đậu ở những gốc cây to, khép cánh lại nên rất phát hiện. Khi bị xua đuổi chúng thường bay chậm một khoảng khá xa rồi đậu vào một gốc cây to khác. Thức ăn của sâu non của loài này là các loài thực vật thuộc họ Cỏ Poaceae
Phân bố: Việt Nam: chúng phần bố ở hầu khắp các tỉnh phía Nam như Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu …
Thế giới: loài này được biết đến là có phân bố ở Ấn Độ, Cambodia và Thái Lan, Malaysia.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.187- BƯỚM CHÚA RỪNG NHIỆT ĐỚI MURA








Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng: Đực và cái giống nhau nhưng con cái hơi to hơn. Mặt trên: Màu nền nửa cánh phía nách cánh màu xám xanh với lốm đốm lông tơ màu nâu. Nửa đỉnh cánh trước trắng với vài điểm xanh, phấn trắng bao xung quanh mạch cánh. Nửa đỉnh cánh sau màu xám xanh với màu hoa cà nhạt hoặc trơn (ở loài phụ gialai), có khía dải đen ở đầu và mép ngoài cánh. Mặt dưới: Màu nền cả hai cánh nâu vàng. Giữa khoảng cánh 2 và 5 cánh trước và giữa khoang 2 và 6 cánh sau có các đốm tròn vòng màu nâu - da cam, có điểm trắng ở giữa và viền đen xung quanh. Chiều dài cánh trước 55 - 58mm ở con đực và 61 - 69mm ở con cái. Có hai phân loài ở Việt Nam. Mẫu thu được ở Gia Lai có màu sẫm hơn ở Lâm Đồng.
Sinh học, sinh thái: Sống trong rừng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh và rừng tre nứa ở độ cao vừa phải (400 - 800m). Xuất hiện theo mùa vào cuối mùa khô. Qua các năm, loài này được phát hiện khá phong phú tuy nhiên mật độ quần thể biến động. Cá thể trưởng thành bay rất gần mặt đất và thích hoa quả thối rữa và phân động vật. Thức ăn chưa biết.
Phân bố: Trong nước: Gia Lai (Kon Cha Rang), Lâm Đồng (Bảo Lộc, Cát Lộc).
Thế giới: Mới chỉ thu được ở Việt Nam.
Giá trị: Loài mới được mô tả (1998) có giá trị nghiên cứu khoa học và có thể là đặc hữu của Việt Nam.

Nguồn : SVRVN &  Internet