Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

341- CHÀ LÀ

341- CHÀ LÀ

Chùm quả trên cây chà là Phoenix dactylifera

Cây chà là được nhìn thấy khắp nơi 

Phoenix roebelinii (đồng nghĩa: Phoenix loureirii) - Chà là lùn, chà là nam
CHÀ LÀ
Thân đơn, lá kép lông chim
Hoa đơn khác gốc, tên em: Chà là
Riêng loài Đác-ty-phe-ra (P. dactylifera)
Cùi dày, thơm, ngọt nhà nhà chuộng ưa.
BXP
Sưu tập
Cây chà là tên khoa học Phoenix dactylifera, chi Phoenix, Họ Cau Arecaceae, Bộ Cau Arecales
Thân cây đơn hoặc có chồi rễ mút và phát triển thành bụi, có chiều cao dao động từ 1–30 m. Lá hình lông chim dài từ 1–6 m. Hoa đơn tính khác gốc, thụ phấn nhờ gió. Hoa không dễ thấy có màu nâu ánh vàng và rộng khoảng 1 cm, nhưng chúng được nhóm lại thành cành hoa lớn có nhiều nhánh dễ thấy dài khoảng 30–90 cm. Quả là loại quả hạch, dài 1–7 cm, có màu vàng hay nâu đỏ hoặc tía sẫm khi chín, bên trong có một hạt.
Quả của P. dactylifera, cây chà là có giá trị thương mại, là loại quả to với lớp cùi thịt dày, ăn được, chứa nhiều đường và rất ngọt; các loài khác chỉ có lớp cùi thịt mỏng.
Loài Phoenix reclinatachà là nghiêng, Phoenix roebelinii(đồng nghĩa: Phoenix loureirii) - Chà là lùn, chà là nam là những loài cây cảnh đẹp.Loài này khác vớiP. dactylifera, ở chỗ nó có thân cây mập hơn, nhiều lá hơn, các lá chét cũng gần nhau hơn và có màu xanh lục thẫm chứ không phải màu xanh lục xám.
Loài Phoenix Roebelenii có khả năng loại bỏ được phần lớn các chất gây ô nhiễm, đặc biệt là xylene, là loại cây cảnh trồng để chống ô nhiễm.

340- DỪA

340- DỪA


Quả dừa trên cây


Hoa dừa

Cây dừa nhìn từ dưới lên

DỪA
BXP
Lá em làm lược chải mây
Thân em hứng gió dạn dày tháng năm
Nước em mát, bổ như sâm
Rễ em chữa bệnh, cùi làm thức ăn.
Sưu tập
Dừa tên khoa học Cocos nucifera,chi Cocos, Họ Cau Arecaceae, Bộ Cau Arecales
Cây thân trụ cao tới 20m. Thân nhẵn, có nhiều vết sẹo to do bẹ lá rụng để lại. Lá rất to, có bẹ ôm lấy thân cây và 1 trục mang nhiều lá chét xếp 2 dãy đều đặn ở hai bên. Bông mo (buồng hoa) ở nách lá, lúc đầu ở trong một mo dày, phân nhánh nhiều thành bông, mỗi bông mang hoa đực ở trên và hoa cái ở dưới. Hoa đực có 6 mảnh bao hoa màu vàng, 6 nhị và 1 nhuỵ lép. Hoa cái lớn hơn, có 6 mảnh bao hoa, 3 lá noãn nhưng chỉ có 1 lá noãn phát triển thành quả hạch mang 1 hạt. Quả khô, gồm 3 lớp vỏ, vỏ quả trong là sọ dừa. Hạt to, có nội nhũ đặc biệt gồm phần nước ở trong và phần cứng (cùi dừa ở ngoài). 
Gốc ở đảo Andaman (vịnh Bengan Ấn Độ), được trồng rộng rãi ở nông thôn Việt Nam, xung quanh hồ ao mương rạch, lạch sông. Cây mọc khoẻ, ưa đất thoáng dày, ẩm ướt. Ở nước ta, có các giống Dừa quý như Dừa dâu, Dừa ta, Dừa xiêm, Dừa lửa, Dừa lai Maoa, Dừa dâu cho nhiều dầu, có năng suất cao và Dừa lửa nhiều nước là hai giống dừa được trồng nhiều. Dừa có thể thu hái 4 lần mỗi năm, nhưng rộ nhất từ tháng 6 đến tháng 10. Rễ dừa thu hái quanh năm. 
Ta thường dùng nước Dừa uống bổ dưỡng và giải khát, còn dùng trị sởi và trị sán xơ mít. Rễ Dừa thay thế các thuốc lợi tiểu, dùng trị bệnh lậu, ho gió, các chứng về gan có vàng da hay không. Cùi dừa thường được sử dụng trong ăn uống vừa bổ dưỡng, giúp cơ thể có thêm chất béo, lại có thể trị phong thấp nhức mỏi. Vỏ sọ Dừa sắc uống cầm chảy máu mũi và ngừng nôn. 
Thế giới ngày nay ưa chuộng Dừa vì nó chứa một số acid béo không thay thế trong quá trình đồng hoá thức ăn, cố định men, tham gia dự trữ chất béo của cơ thể. Dầu dừa hay bơ Dừa tạo thành một nhũ tương rất mịn khi gặp mật và dịch tụy nên dễ đồng hoá. Nước Dừa vô trùng dùng làm dịch truyền tĩnh mạch trị ỉa chảy.

339- THỐT NỐT

339- THỐT NỐT





Quả thốt nốt
THỐT NỐT
Quê Ăngco em tên Thốt nốt
Cụm hoa non tích trữ nhựa non
Cho đường Thốt nốt ngọt thơm
Chữa nhiều bệnh, bột quả ngon thường dùng.
BXP
Sưu tập
Thốt nốt tên khoa họcBorassus flabellifer, Chi Borassus Thốt nốt, Họ Cau Arecaceae,Bộ Cau Arecales.
Cây to, cao 20-25m. Lá dày cứng, cuống to, có gai, phiến hình quạt, tua chẻ hai ở đầu. Hoa đơn khác gốc. Buồng đực mang nhánh chứa rất nhiều hoa nhỏ. Buồng cái ít hoa. Hoa cái lớn hơn hoa đực. Quả bạch tròn, nâu sẫm, chứa 3 hạt hoá gỗ dẹp, có một lỗ thủng ở đỉnh. 
Loài cổ nhiệt đới mọc hoang và được trồng nhiều ở Ấn Độ, Campuchia và các tỉnh đồng bằng Nam bộ Việt Nam. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm. 
Rễ cây có vị hơi ngọt, tính bình; có tác dụng giải nhiệt, hồi phục sức, cây non lợi tiểu, tiêu viêm. Dịch cây lợi tiểu, kích thích và tiêu viêm. Thịt quả làm nhầy và bổ dưỡng. Cụm hoa non, cắt cho ra nhựa non chứa nhiều đường dùng làm đường Thốt lốt, cho lên men là rượu có vị thơm, ngọt dịu, chứa nhiều loại vitamin B. Thịt quả cho bột ngon, thường dùng ăn tươi. 
Ở Capuchia, nhân dân dùng các bộ phận của cây làm thuốc: 
- Cuống của cụm hoa dùng trong các bệnh đau bụng do ảnh hưởng của sốt rét, nhất là sốt có sưng lá lách. Tách một miếng của trục cụm hoa, lấy 2 nắm cho vào nồi, đổ nước vào đun sôi trong 20 phút. Ngày uống 3 bát. 
Để trị giun, hơ lửa dịu các cuống của cụm hoa, vắt ra lấy dịch, lọc qua vải lọc, thêm đường. Uống 1 chén vào sáng sớm lúc đói, trong nhiều ngày. 
- Nhựa dùng uống lúc đói vào sáng sớm làm thuốc nhuận trường. 
- Đường Thốt lốt dùng giải độc, nhất là giải độc strychnin. 
- Cây non trị sỏi mật, trị lậu, trị lỵ. 
- Rễ dùng trị lậu.

338- CÂY BÁNG


4-nhánh Commelinids 5 bộ + 1họ khg bộ
+ Họ Dasypogonaceae Đa tu thảo -- không đặt trong bộ
1-bộ Arecales Bộ Cau 
2-bộ Commelinales Thài lài
3-bộ Poales Hòa thảo, bộ Cỏ hoặc bộ Lúa
4-bộ Zingiberales Bộ Gừng
5-bộ Ceratophyllales Rong đuôi chó 
+ Họ Dasypogonaceae Đa tu thảo:họ này bao gồm 16 loài trong 4-5 chi sinh sống tại khu vực miền nam và tây nam Australia (không sưu tập)
1-bộ Arecales Bộ Cau
Bộ Cauđược công nhận rộng rãi chỉ trong vài chục năm gần đây. Bộ này chỉ có một họ duy nhất làHọ Cau Arecaceae, gồm khoảng 202 chi với 2.600 loài, phần lớn sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Trong số tất cả các họ thực vật thì họ Cau có lẽ là dễ nhận biết nhất. Loài điển hình trong họ này là cau, quả của nó được nhai với lá trầu không.
Đã sưu tập Bài 54Cây Cau. Sẽ sưu tập tíêp:Cây Báng, cây Thốt nốt, Dừa,Song bột,Song mật
338- CÂY BÁNG

Cây báng

CÂY BÁNG
Báng em lá tựa lá Dừa
Bông mo phân nhánh, cuống hoa nước nhiều
Lõi thân nhiều bột người yêu
Dùng thay lương thực, ủ nhiều rượu ngon.
BXP
Sưu tập
Cây bángtên khoa họcArenga pinnata, chi Arenga, Họ Cau Arecaceae, Bộ Cau Arecales
Cây bángcòn tên đoác, co pảng, quang lang, bụng báng, búng báng, báng búng,(không nhầm với cây báng Đình Bảng thuộc họ Dâu tằm), là giống cây lâu năm thuộc họ Cau, có nguồn gốc khu vực nhiệt đới châu Á, từ đông Ấn Độ về phía đông tới Malaysia, Indonesia, và Philippines. Ở Việt Nam, cây báng mọc nhiều ở chân núi ẩm (Cao Bằng, Lạng Sơn), chân núi đá vôi, trong rừng thứ sinh.
Ở tuổi trưởng thành cây có đường kính khoảng 40-50 cm (gốc và ngọn tương đương) và cao chừng 8-12 mét. Lá xẻ lông chim to trông như lá dừa, mặt dưới màu trắng. Cuống và bẹ lá có nhiều sợi dài có thể bện thừng. Bông mo phân nhánh nhiều, cong. Hoa đực có 70-80 nhị, hoa cái có ba lá đài còn lại trên quả. Cuống hoa chứa nhiều nước ngọt, có thể nấu thành đường hoặc cho lên men rượu. Lõi thân chứa nhiều tinh bột, ăn được. Thân đục ra làm máng nước. Ruột cây báng đặc, có cấu trúc sợi trải thưa dọc theo chiều thân cây, là chất liệu màu trắng, mềm.
Bột trong lõi cây có thể dùng làm lương thực. Cho đến giữa thế kỉ 20, người Rục ở miền tây Quảng Bình còn lấy bột báng làm lương thực chính. Hiện nay ở Trung Quốc họ sử dụng bột báng rất nhiều để làm đồ uống mát bổ có lợi cho sức khỏe, bột báng còn là chất phụ gia kông thể thiếu trong ẩm thực và làm bánh kẹo.
Nhiều người trồng báng làm cảnh vì có dáng đẹp.
Rượu báng là đặc sản của dân miền núi đá cao, được nấu từ ruột cây báng sau khi đã ủ men rượu. Hiện nay ở một số xã của tỉnh Cao Bằng người dân vẫn làm rượu từ cây báng, nhưng phải mất khá nhiều thời gian để ủ và lên men (4 tháng) mới có thể cất rượu được

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

336- TỎI GẤU

336- TỎI GẤU


TỎI GẤU
Quê ôn đới, em tên Tỏi Gấu
Hoa trắng tươi, lá rộng làm rau
Vốn là cây thuốc từ lâu
Năm ngàn năm vẫn tươi mầu nước non.
BXP
Sưu tập
Tỏi gấu hay hành gấutên khoa học Allium ursinum,chi Alium Hành,họ Hành Liliaceae, Bộ Liliales Loa kèn, bộ Hành.
+Tỏi gấu hay hành gấumọc hoang dã và có họ hàng gần với hành tăm. Nó ra hoa trước khi ra lá mới và làm cho không khí sặc mùi tỏi khá mạnh rất đặc trưng của nó.Lá tỏi gấu được người ta thu hoạch để làm xà lách, luộc ... Nó cũng được sử dụng làm cỏ khô cho gia súc. Bò ăn cỏ có chứa tỏi gấu sẽ tiết ra sữa có mùi tỏi hơi nhẹ, và bơ làm từ loại sữa này đã từng rất phổ biến tại Thụy Sĩ vào thế kỷ 19.
Lá tỏi gấu, thường được thu hoạch vào mùa xuân, trước khi nó ra hoa. Củ của tỏi gấu nhỏ, không được sử dụng trong nấu ăn. Mùi vị của lá tỏi gấu là trung gian giữa mùi lá hành hay lá tỏi và nó giàu vitamin C.
Tỏi gấu được sử dụng như là một loại cây thuốc từ thời của người Đức, Celt và La Mã cổ đại. Qua nghiên cứu người ta đặt ra giả thiết tỏi gấu được sử dụng từ khoảng 5.000 năm trước.
Tỏi gấu có các tính chất tẩy trừ giun sán và kháng trùng. Người ta cũng khuyến cáo sử dụng nó trong điều trị bệnh scobut và xơ vữa động mạch, và trong y học cổ truyền các khu vực này người ta đã dùng nó như vậy trong hàng nghìn năm qua, trong đó có cả các bệnh như nóng sốt, thuốc tẩy giun sán và kháng trùng, cũng như sử dụng ngoài da trong trường hợp phong thấp, hay các bệnh nhiễm trùng đường ruột khác. 
Tỏi gấu mọc chủ yếu tại các khu rừng lá sớm rụng vùng đầm lầy ôn đới thuộc châu Âu, Bắc Á, Bắc Mỹ. 
Post nốt bài cũ, không biết có còn tiếp tục được không, nhưng có điều chắc chắn: Tay tôi còn gõ được phím thì tôi chưa rời trang Sưu tập.