Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

B.205- BƯỚM LÔNG XANH







Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng:
Giống Anthene có vài đặc điểm giống với Nacaduba, tuy nhiên râu của chúng dài hơn và mập. Gân 11 và 12 tự do ( không nối với nhau). Lông rung ở cuối cánh sau dài và tạo thành 3 đuôi ngắn ở gân 1,2 và 3.Việt Nam có hai loài trong giống Anthene. Loài A.lycaenina có chót cánh trước và góc ngoài cánh sau nhọn hơn, mép ngoài cánh trước khá thẳng; ở mặt dưới cánh sau, sát bờ cánh, có một chấm đen rất rõ. Còn loài A.emolus có mặt trên con đực xanh tím sậm với nền mép đen, con cái màu nâu với phần gốc cánh màu tím - trên cánh sau con cái có các đốm tối màu ở mép ngoài. Mặt dưới con đực và cái giống nhau, cánh sau có một đốm mắt viền cam ở góc ngoài và một chấm đen ở đáy cánh, gần gốc cánh. Có ba đuôi rất ngắn ở cánh sau, tạo thành từ các lông nhỏ. Có kích thước gần bằng các loài thuộc giống Jamides và Nacadula. Sải cánh ≥ 30mm. Loài A.emolus còn có một dạng khác nữa, về cơ bản rất giống dạng được giới thiệu trên đây, nhưng màu sắc ở mặt trên xanh đậm hơn và các hoa văn ở mặt dưới rõ rệt hơn.
Sinh học sinh thái: Thường gặp ở các vũng nước trong rừng. Hay đậu lên quần áo hoặc da người để hút các chất khoáng trong mồ hôi. Bay rất nhanh nhưng chỉ từng chặng ngắn. Bướm đực có thể thường gặp ở những chỗ đất trũng trên những lối mòn nhỏ trong rừng, ở bờ sông và suối gần rừng phục hồi thứ sinh. Loài này thích vùng đất thấp. Trên bán đảo Malaysia bướm cái đẻ trứng trên cây Vàng anh - Saraca dives họ Đậu Fabaceae, định cư do những loài kiến đặc biệt. Sâu non tuổi nhỏ được kiến tha đến tổ của chúng, ở đó chúng lớn lên, trong khi những sâu non không được kiến tha về tổ sẽ bị chết.       
Phân bố:
Phân bố từ Ấn Độ qua bán đảo Đông Dương : Thái Lan, Lào, Việt và quần đảo San-đa đến Tân-Ghi-nê và Ôx-trây-li-a. Loài này xuất hiện khắp nơi ở Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài phân bố rộng và thường gặp.

Nguồn : SVRVN &  Internet

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

B.204- BƯỚM HOÀNG ĐẾ TRẮNG SỮA








Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng: Loài bướm có kích thước lớn trong họ Bướm xanh Lycaenidae. Mắt màu xanh ngọc bích, khi đậu mặt cánh dưới màu trắng với các vạch sậm màu, không đều, chay dọc từ mép cánh trước đến cánh sau. Góc ngoài cánh sau có hai đốm mắt đen, giữa hai đốm mắt này có các vảy màu xanh. Có hai cặp đuôi, cặp đuôi trên rất dài, thẳng, chót đuôi cong dần lên trên, màu trắng, ở giữa có sọc màu đen nhạt và cặp đuôi ngắn năm phía dưới, cong xuống. Mặt trên màu trắng, chót và rìa cánh trước đen ánh xanh ở con đực và con cái không có ánh xanh. Sải cánh 45 - 48mm.
Sinh học, sinh thái: Loài này khá phổ biến trong nhiều kiểu rừng khác nhau, thích độ cao trung bình và thấp. Chúng bay khá nhanh, thường gặp ở các khu rừng còn tốt và những nơi trảng trống gần bìa rừng vào mùa mưa. Bướm cái đẻ trứng và thức ăn của sâu non trên các loài thực vật thuộc chi Balanocarpus sp. thuộc họ Dầu Dipterocapaceae phân bố trong vùng có loài này sinh sống. Ngoài ra sâu non còn ký chủ trên một số loài thực vật thuộc họ Dây gối Celastraceae và họ Na Annonaceae.
Phân bố: Loài phân bố rộng từ Ấn Độ, Java đến Thái Lan, Cambodia. Ở Việt Nam chỉ gặp từ Nam bộ. Ở các tỉnh miền Đông Nam bộ  Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh thường gặp một vài cá thể vào mùa mưa và loài này còn gặp phân bố ở Phú Quốc.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.203- BƯỚM HẠI TUẾ








Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng: Mặt trên màu xanh dương, viền đen mảnh, là loài có đuôi mảnh như sợi chỉ, có một đốm đen sát đuôi cánh sau. Con cái màu nhạt hơn, chỉ có gốc cánh còn màu xanh, nhưng có màu xanh da trời với viền đen rộng trên mép cánh trước, các đốm gần mép ngoài cánh sau ở khoảng 2 màu vàng cam. Mặt dưới màu nâu nhạt có các vạch màu sậm hơn, viền trắng và vài đốm đen rất rõ, có một đốm mắt lớn viền cam ở sát đuôi. Các đốm ở cuối cánh sau ở khoảng 1b và 2 màu vàng da cam, các dạng mùa khô có dải băng nhạt màu ở ô cánh thuộc cả cánh trước và cánh sau. Sải cánh: 26-30mm.
Sinh học sinh thái: Thường gặp ở vườn hoa, bãi đất trống có cây bụi thấp hay cỏ; cũng là "thành viên" thường thấy ở các vũng nước trong rừng. Sâu ăn lá cây thiên tuế Cycas spp., họ Thiên tuế Cycadaceae. Đôi khi bị coi là địch hại của loại cây cảnh này. Loài này thường sống ở độ cao dưới 1.200m trong các khu rừng thứ sinh, các trảng cỏ cây bụi và vùng nông nghiệp.
Phân bố: Celon, Ấn Độ, Banglades đến Mianma và Đông Dương (Thái Lan, Lào, Việt Nam), Malaixia. Ở Việt Nam: từ miền Trung vào miền Nam. Rất phổ biến ở thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực phía nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Có giá trị trong phân loại học và đa dạng sinh học nhưng đây lại là một loài côn trùng có hại cần phòng diệt, mặc dù loài này chưa gây hại đến ngưỡng kinh tế.

Nguồn : SVRVN &  Internet

B.202- BƯỚM HỀ VẠCH THẲNG









Sưu tập :


Đặc điểm nhận dạng: Giống Caleta có hai loài ở Việt Nam, có thể gặp chung với nhau. Mặt trên màu đen với phần giữa cánh màu trắng [12]. Loài C.roxus có mặt trên màu nâu tối đến đen với những dải băng nhạt màu hơn ở vùng giữa của cả cánh trước lẫn cánh sau. Cánh trước có gân 11 bắt đầu từ gân 10 và nối với gân 12. Mặt dưới màu trắng với một dài màu nâu tối hoặc nâu đen từ gốc cánh đến giữa mép cánh trên, nơi đây có một dải cùng màu chạy ngang từ trong góc chót cánh trước tới trên cánh trước, còn một đốm màu đen to ở cuối đĩa cánh- gần mép ngoài và mép dưới cánh. Mặt dưới cánh sau cũng màu trắng và có một loạt các đốm màu đen rất to tạo thành hoa văn rất đẹp.
Sinh học sinh thái: Gặp nhiều trong rừng hoặc gần rừng, dọc đường đi và dọc bờ suối trong rừng. Chúng thường tập trung ở những vũng nước chứa chất khoáng với nhiều loài khác, đôi khi với số lượng lớn. Loài khá hiếm. Sống ở độ cao dưới 1.200m, không có trong các khu rừng.
Phân bố: Thái Lan, Lào, Việt Nam.Phân bố trên toàn Việt Nam.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Tên bướm hề (Pierrot) được đặt từ kiểu màu sắc nền trắng đốm đen, giống trang phục của các diễn viên hề trong kịch câm châu Âu. Loài này có phổ phân bố thế giới hẹp nhưng rộng ở Việt Nam.

Nguồn : SVRVN &  Internet

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

B.201- BƯỚM HỀ VẠCH GẤP KHÚC







Sưu tập :


Mô tả: Rất giống loài Caleta roxus. Mặt dưới cánh gồm 2 màu đen và trắng cánh trước có một vệt đen nhìn giống như khuỷu tay bắt đầu từ gốc cánh kéo dài đến gần chóp cánh. Cuối phần gấp khuỷu là một mảng đen. Rìa cánh và chóp cánh trước là những màng đen với những đốm trắng mờ. Gốc cánh sau là một mảng đen lớn nhưng không kéo sát vào gốc cánh. Ở giữa cánh sau là 3 mảng đen lớn gân như đứt khúc, đuôi ngắn. Mặt trên màu đen với vùng giữa cánh màu trắng. Loài này thường đậu trên mắt đất ở bìa rừng hay gần các vũng nước nhỏ để hút khoáng chất, bay nhanh khi bị động. Cây ký chủ của sâu non là một số loaì thuộc họ Táo ta Rhamnaceae
Sinh học sinh thái: Gặp nhiều trong rừng hoặc gần rừng. Chúng thường tập trung ở những vũng nước chứa chất khoáng với nhiều loài khác, đôi khi với số lượng lớn. Hiếm. Sống ở độ cao dưới 700m trong các khu rừng.
Phân bố: Loài này phân bố ở Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào. Ở Việt Nam chúng hầu như phân bố ở khắp các tỉnh nhưng chỉ gặp ở các vùng có rừng. Tên bướm được dịch từ tên tiếng Anh.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Cũng là loài có phổ phân bố thế giới hẹp và rộng ở Việt Nam.

Nguồn : SVRVN &  Internet