Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

284- TRẦU KHÔNG


Họ Piperaceae Hồ tiêu
Chi Piper Hồ tiêulà một chi quan trọng về kinh tế và sinh thái học trong họ Hồ tiêu Piperaceae bao gồm khoảng 1.000 – 2.000 loài cây thân bụi, thân thảo và cây dây leo. Piper là chi mẫu cho các nghiên cứu trong sinh thái học và sinh học tiến hóa. Sự đa dạng và tầm quan trọng sinh thái của chi này làm cho nó là ứng cử viên sáng giá trong các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực trên, mặc dù một điều không gây ngạc nhiên là phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào tầm quan trọng kinh tế của loài Piper nigrum (hồ tiêu),Piper methysticum (ca va) và Piper betle (trầu không).
284- TRẦU KHÔNG

Piper_betle_plant.jpg

TRẦU KHÔNG
Tên Trầu lại có đuôi không
Cùng duyên Cau tạo tình nồng lứa đôi
Miếng Trầu thêm Vỏ cùng Vôi
Là tình gắn kết con người với nhau.
BXP
Sưu tập
Trầu khôngtên khoa học Piper betle,Chi Piper Hồ tiêu, Họ Piperaceae Hồ tiêu, Bộ Piperales Hồ tiêu
Trầu khônglà loại dây leo thường xanh sống lâu năm, một loài cây gia vị hay cây thuốc, lá hình trái tim có mặt bóng và các hoa đuôi sóc màu trắng, có thể cao tới 1 mét. Loài này có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á và được trồng ở Ấn Độ, Indonesia, Sri Lanka, Việt Nam, Malaysia. Lá trầu không loại tốt nhất thuộc về giống "Magahi" (từ vùng Magadha) sinh trưởng ở gần Patna tại Bihar, Ấn Độ. Ở Việt Nam có hai loại trầu chính: trầu mỡ và trầu quế. Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, nhỏ lá, được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu.
Tổ hợp của cau, trầu và vôi để nhai, còn được gọi là "miếng trầu", đã được người dân trong khu vực sử dụng vài nghìn năm. 
Tác dụng trị bệnh của "miếng trầu"!
- Lá trầu không: Trầu không có tác dụng chống co thắt trên mô cơ trơn, ức chế sự tăng quá mức của nhu động ruột… Trên thực tế, người ta sử dụng dịch chiết nước của lá trầu không để ngậm trị viêm răng, lợi, đau răng, nhất là bệnh nha chu viêm. Dùng nước đun sôi để nguội của lá trầu rửa các mụn ngứa, các vết thương… Cuống lá trầu, chỉ cần một cuống, ngắt ra, đặt dọc ở huyệt ấn đường, sẽ làm hết nấc ở trẻ em. Nước mầu đỏ khi nhai miếng trầu, bôi vào các nốt "chàm" ở trẻ sơ sinh, cũng có tác dụng tốt. Lá trầu hơ nóng chườm vào vùng chung quanh rốn trị đau bụng ở trẻ em… 
-Cau trong "miếng trầu", thực chất lại được sử dụng tới hai vị thuốc của quả cau; đó là vị "binh lang", tức phần hạt của quả cau (Semen Arecae catechi) và đại phúc bì (Pericarpium Arecae catechi) phần vỏ dày của quả cau. Cả hai bộ phận này đều chứa alcaloid, có tác dụng làm tê liệt các cơ của con sán dây trong ruột, còn có tác dụng tăng tiết nước bọt. Ngoài ra đại phúc bì còn có tác dụng lợi tiểu. Trên thực tế, khi trị sán dây, người ta còn phối hợp binh lang (20 – 40g) với 40 g hạt bí ngô. Có thể sắc riêng binh lang, lấy nước uống với bột hạt bí ngô, uống vào lúc đói. Khi sán đã bắt đầu ra, bệnh nhân cần ngồi vào chậu nước ấm tới khi cho sán ra hết. Đối với đại phúc bì, dùng trị bệnh báng (chứng tích nước trong phúc mạc, viêm gan cổ trướng), tiểu tiện khó khăn, buốt dắt
-Vỏ trong miếng trầu tức vỏ cây chay được dùng để trị đau răng và làm cho răng bền chắc, nhất là khi bị lung lay; có thể sắc nước ngậm nhiều lần trong ngày. 
-Vôi trong miếng trầu: Chất kiềm Ca(OH)2 trong vôi tôi kết hợp với tinh dầu trong lá trầu không tạo phản ứng tỏa nhiệt do đó làm cơ thể ấm lên. 
Công Dụng Của Lá Trầu Không
Lá Trầu Không rất hữu ích với sức khỏe con người.
+ Bệnh đái dắt- Uống hỗn hợp nước cốt trầu không pha chung với sữa loãng, 1 chút đường sẽ giúp chấm dứt được tình trạng đái giắt.+ Suy nhược thần kinh - Khi đau dây thần kinh, hay mệt mỏi, suy nhược thần kinh, lấy nước cốt vắt từ vài lá trầu không với một thìa mật ong. 1 thìa hỗn hợp này chia làm 2 lần trong ngày.+ Chữa đau đầu - Lá trầu không có tác dụng giảm đau và làm mát. Hãy lấy lá trầu giã dập rồi xoa vào thái dương hay đỉnh đầu. + Các bệnh về phổi - Khi mắc bệnh về phổi, lấy lá trầu không tẩm dầu mù tạt rồi hơ ấm, đặt lên ngực day nhẹ sẽ giảm được ho và giúp bệnh nhân thở dễ hơn. + Táo bón -Đối với trường hợp táo bón ở trẻ, một viên đạn đút hậu môn làm từ lá trầu không ngâm trong dung dịch thầu dầu sẽ kích thích trực tràng co bóp, hết táo bón.
+ Đau họng -Khi đau họng, dùng trầu không sẽ rất công hiệu. Lấy lá trầu không và ít hoa quả xay nhuyễn lấy nước, trộn thêm mật ong rồi ngậm thật lâu, nếu uống được thì càng tốt, sẽ giảm các kích thích gây ho. + Chống viêm nhiễm -Lá trầu không luôn có tác dụng hữu hiệu với bệnh thấp khớp và viêm tinh hoàn. + Làm lành vết thương -Khi bị thương, vắt nước cốt trầu không rửa vết thương rồi dùng lá trầu không sạch phủ lên, băng lại. Vết thương sẽ khô, kín miệng sau 2 ngày.+ Bỏng nước sôi -Lấy lá trầu không hơ nhẹ để lá mềm ra rồi phết 1 lớp dầu thầu dầu rồi đặt nhẹ lên vết bỏng. Cứ sau vài giờ lại thay 1 lá trầu không mới. Sau vài lần, dịch trong vết bỏng sẽ tiêu hết, chỗ rộp không mọng nước, không gây mủ. Nên dùng vào ban đêm và vứt đi vào sáng sớm. + Giảm đau lưng -Dùng lá trầu không hơ nóng hoặc nước cốt trầu không trộn với dầu dừa rồi đắp vào thắt lưng sẽ giúp giảm đau lưng nhanh chóng. + Bị tắc sữa -Khi đang cho con bú bị tắc tuyến sữa, hãy lấy lá trầu không tẩm một chút dầu gió sẽ kích thích sữa chảy nhanh và tuần hoàn dòng sữa tốt. Chú ý: Không nên áp dụng nhiều vì bé dễ mắc ung thư lưỡi, miệng và môi. Ngoài ra còn gây khó tiêu, viêm lợi… + Các công dụng khácTrầu không có tác dụng tăng sinh lực, làm sạch răng và làm ngọt miệng.

283-HOA TIÊN LỚN

283-HOA TIÊN LỚN

HOA TIÊN LỚN
Thân rễ tròn, tên Hoa tiên lớn
Hoa tím nâu, lông mịn, hạt đen
Bậc E, quí hiếm nguồn Gen
Hoa làm thuốc bổ, người quen ưa dùng.
BXP
Sưu tập
Hoa tiên lớn tên khoa học Asarum maximumHemsl,Chi Asarum Tế tân, , Họ Mộc hương namAristolochiaceae, Bộ Piperales Hồ tiêu.
Loài cây thảo, sống nhiều năm, cao 20 - 30cm. Thân rễ tròn, có đốt, phân nhánh, mang nhiều rễ phụ. Lá mọc so le, thường 2 - 3 lá cái, có cuống dài, nhẵn, khi non màu tía, sau chuyển sang màu lục nhạt. phiến lá mỏng hình mác nhọn đầu, dài 13 - 16cm, rộng 8 - 12cm, gốc lá`tạo 2 thùy cách xa nhau, đầu gần nhọn mặt trên lá nhẵn, mặt dưới có lông thưa ở gân, mép nguyên. Hoa riêng lẻ thường 1 cái, mọc ở ngọn hay ở kẽ lá, cuống hoa ngắn, màu tím nâu, có lông mịn. Thường mọc rủ xống nhưng hoa mọc cong lên. Lá bắc 3, hình tam giác nhọn, tồn tại cùng với quả. Bao hoa màu xám nâu, hình phễu hơi cong, đầu chia thành 3 thuỳ, hình tam giác hay hình mác, họng màu tím nâu, có vân trắng. Nhị 12, chỉ nhị ngắn, màu tím đỏ, trung đới tròn đầu vượt trên bao phấn. Vòi nhụy chia 6, màu hồng tím, dài gấp đôi bao phấn. Quả phát triển trong bao hoa tồn tại. Hạt nhỏ, màu đen.
Mùa hoa tháng 4 - 5, mùa quả tháng 5 - 7. Tái sinh chồi vào mùa xuân. Có thể tách các nhánh con từ thân rễ để trồng. Khả năng gieo trồng bằng hạt chưa rõ.
Thường mọc ẩn dưới tán rừng mưa nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, độ cao 1300 - 1600 m. Cây ưa bóng, ưa ẩm, thường mọc trên đất ẩm, nhiều mùn, gần bờ suối. Cây sống trong vùng có khí hậu mát quanh năm.
Việt Nam: Lào Cai (Sapa), Quảng Ninh (Đông Triều: núi Yên Tử), Vĩnh phúc (Tam Đảo), Hà Tây (Ba Vì).
Nguồn gen qúy hiếm. Hoa được dùng làm thuốc bổ.
Mức độ bị đe dọa ở cấp đang nguy cấp Bậc E.Do vùng phân bố hạn chế, số lượng cá thể ít, lại bị tàn phá vì mở rộng đất làm nương rẫy và khai thác làm thuốc (Ba Vì).

282-BIẾN HOÁ

282-BIẾN HOÁ


BIẾN HOÁ
Tên Biến hoá nhưng em giản dị
Lá mùi thơm đặc biệt khi vò
Nguồn gen quí hiếm - Bậc E
Rễ chữa cảm sốt, thấp tê, ho nhiều.
BXP
Sưu tập
Biến hoá tên khoa họcAsarum balasae Franch. 1898,Chi Asarum Tế tân, Họ Mộc hương namAristolochiaceae, Bộ Piperales Hồ tiêu
Cây thảo, sống nhiều năm, cao 10 - 20cm. Thân rễ tròn, có đốt ngắn, thường phân nhánh, mang nhiều rễ con, vò nát có mùi thơm đặc biệt. Lá mọc so le, có 2 - 6 lá cái, có cuống, có lông, phiến lá dày, hình tim tròn, dài 10 - 12cm, rộng 6 - 8cm, có lông cả 2 mặt, ở mặt trên còn có những túm lông ngắn, mép nguyên. Hoa 1 - 2 cái, mọc riêng lẻ ở kẽ lá hoặc ở ngọn, hoa có cuống, thường mọc cong lên. Bao hoa màu nâu nhạt, có đốm trắng, đầu chia thành 3 thùy, hình mác rộng. Nhị 12, chỉ nhị ngắn, trung đới hình mác, vượt lên trên bao phấn. Vòi nhụy hình ống, ngắn bằng 1/3 bao phấn, ở đỉnh tách thành 6 đầu nhụy. Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, bên ngoài có những hàng lông chạy dọc. Hạt nhỏ, màu đen nhẵn.
Mùa hoa tháng 3 - 5, mùa quả tháng 5 - 7. Tái sinh chồi vào mùa xuân. Có thể tách các nhánh con từ thân rễ để trồng. Trong tự nhiên đã quan sát được cây co mọc ừ hạt.
Mọc ở hốc đá ven suối, ở độ cao 700m trở lên. Cây ưa bóng, ưa ẩm, thường mọc dưới tán rừng trên đất ẩm, nhiều mùn.
Việt Nam: mới chỉ gặp ở Cao Bằng (Quảng Hòa), Hà tây (Ba Vì).
Nguồn gen qúy hiếm. Rễ và thân rễ dùng làm thuốc chữa ho, viêm phế quản, cảm sốt và tê thấp.
Đang nguy cấp. Mức độ đe dọa: Bậc E. Ngoài điểm thu mẫu trước đây ở Ba Vì, điểm phân bố Quảng Hòa - Cao Bằng được coi là nơi phát hiện mới đây (1973), nhưng số lượng cá thể không đáng kể, lại mọc ở gần đường đi, dễ dàng bị tàn phá.

281-HOA TIÊN

Chi Asarum Tế tân: Tên gọi của các loài này trong tiếng Anh là wild ginger (gừng dại), do mùi và vị thân rễ của chúng rất giống với mùi vị của gừng, nhưng hai nhóm thực vật này trên thực tế không có quan hệ họ hàng gì. Rễ của các loài tế tân có thể dùng làm gia vị, nhưng nó chứa các chất lợi tiểu và gây đi đái nhiều. Tế tân nói chung ưa thích các khu vực ẩm ướt, nhiều bóng râm và đất giàu mùn. Các lá hình tim, sớm rụng, mọc đối, và mọc ra từ thân rễ nằm ngay dưới mặt đất. Mỗi năm hai lá mọc ra từ các đầu chồi tăng trưởng. Các hoa kì dị hình cái ấm, cho nên trong tiếng Anh người ta còn gọi chúng là little jug (ấm con), xuất hiện vào mùa xuân, mọc đơn giữa các gốc lá.

281-HOA TIÊN

[img]http://220.231.117.38/bc//components/com_medialibrary/covers/1_491ecc1d.jpg[/img]
[img]http://220.231.117.38/bc//components/com_medialibrary/covers/1_431e930e.JPG[/img]
HOA TIÊN
Vốn thân thảo, lá trầu, hoa tím
Tên Hoa tiên, hiện diện vùng cao
Loài em sách đỏ ghi vào
Rễ, lá thuốc quí người Dao hay dùng.
BXP
Sưu tập
Hoa tiêntên khoa họcAsarum glabrum Merr, Chi Asarum Tế tân, Họ Mộc hương namAristolochiaceae, Bộ Piperales Hồ tiêu
Cây thảo, cao 20-30 cm sống nhiều năm. Thân nằm rồi đứng, to 5-6 mm. Lá 2-3 trên một cây; phiến hình tim đến tam giác, dài đến 25 cm, ngọn có mũi, nhẵn; cuống dài hơn phiến. Hoa màu tím có cuống ngắn; đài dài xoan, đầu tròn, 7 gân; ống đài thắt lại ở 1/3 trên. Quả nang, dài 3,5 mm, nhiều hạt.
Cây mọc hoang thành từng đám dưới tán rừng ở độ cao từ 1.000 m trở lên. Còn có ở vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, Hoà Bình, Ba Vì, Yên Tử.
Rễ và lá ngâm rượu uống làm thuốc bổ, tăng cường thể lực, ngã đau, đau mắt. Lá còn được dùng chữa ăn uống khó tiêu, đau bụng. Đây là cây thuốc quí của người Dao.
Cây được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007. Phân hạng: VU A1c,d.

280-NAM MỘC HƯƠNG


4-Bộ Piperales Hồ tiêu
4-bộ Piperales Hồ tiêu
Bộ Hồ tiêu là một bộ thực vật hai lá mầm cổ, chứa 5 họ với khoảng 17 chi và 4.090 loài. Các họ: 1=Họ Mộc hương nam Aristolochiaceaegồm 7 chi và khoảng 400-480 loài, là một nhóm thực vật hai lá mầm cổ. Các loài cây trong họ này chủ yếu là cây thân thảo, cây bụi, dây leo hay dây leo thân gỗ nhỏ sống lâu năm. Các lá màng, đơn, hình tim và bản rộng, mọc xen kẽ dọc theo thân trên các cuống lá. Các mép lá nói chung trơn nhẵn. Không có các lá kèm. Các hoa kỳ dị có kích thước từ trung bình tới lớn, phát triển trên các nách lá. Nhiều loài trong các chi Aristolochia và một số trong chi Asarum chứa axít aristolochic độc hại, là chất ngăn cản các loại động vật ăn lá của chúng, Aristolochia tự nó là chất gây ung thư ở người.
(Sẽ sưu tập hai chi cơ bản thông dụng là Aristolochia Mộc hương nam và Asarum Tế tân) 
2-Hydnoraceae Họ này bao gồm 2 chi với khoảng 7 loài thực vật ký sinh. Do không có ở Việt Nam nên không có tên gọi bằng tiếng Việt cho họ này. 3-LactoridiaceaeLoài duy nhất của họ này là Lactoris fernandeziana, một dạng cây bụi đặc hữu trên quần đảo Juan Fernández ở Chile. Tinh dầu của nó có một số công dụng trong công nghiệp.
4-Họ Hồ tiêu (Piperaceae)là một họ thực vật chứa trên 2.000 loài được nhóm trong 9 chi. Chúng là các loại cây thân gỗ nhỏ, cây bụi hay dây leo ở khu vực nhiệt đới.
(Sẽ sưu tập chi Hồ tiêu: Hồ tiêu, Lá lốt, Trầu không...) 5- Họ Giấp Saururaceaelà một họ thực vật thuộc bộ Hồ tiêu có 4-5 chi là Anemopsis, Circaeocarpus, Gymnotheca, Houttuynia và Saururus (đồng nghĩa: Neobiondia), bao gồm 6 loài, có nguồn gốc ở khu vực Đông Á, Nam Á và Bắc Mỹ.
(Sẽ sưu tập chi Houttuynia cây Diếp cá).


+ Chi Aristolochia Mộc hương namhầu hết là các loài cây đặc hữu của Trung Quốc, Đài Loan..Ở Việt Nam có cây Nam mộc hương Aristolochia balansae Franch

280-NAM MỘC HƯƠNG


Hoa cây Aristolochia littoralis khi sắp nở

Aristolochia saccata Wall
NAM MỘC HƯƠNG
Em khác với Mộc hương họ Cúc
Cũng khác loài cây Rút-Mộc hương
Em thuộc họ Mộc hương nam
Trị đường tiêu hoá, tính hàn, hơi cay.
BXP
Sưu tập
Nam mộc hươngtên khoa học Aristolochia balansae Franch, chi Aristolochia Mộc hương nam, họ Mộc hương nam Aristolochiaceae, Bộ Piperales Hồ tiêu.
Cây bụi có cành đen, không lông. Lá có phiến xoan, dài tới 8-10cm, tròn hay hình tim ở gốc và hơi tròn ở ngọn, không lông, gân phụ 4-5 cặp; cuống dài 2,5cm, màu đen. Hoa có cuống dài 3cm, màu đỏ, mọc ở nách lá. Bao hoa dài 3-4cm, có lông vẩy ở mặt ngoài, phần dưới thu hẹp, phần trên làm thành một phiến hai môi, mặt trong có màu đỏ, môi dưới lại chia làm 2 thuỳ. Nhị 12 bầu dưới, 6 ô chứa nhiều noãn. Quả nang dài chứa nhiều hạt dẹp.
Cây mọc ở các tỉnh phía Bắc nước ta, tại Lào Cai, Hoà Bình, Vĩnh Phú, Hà Tây.
Vị đắng, hơi cay, tính hàn; có tác dụng trừ lỵ, lợi tiểu, giúp tiêu hoá.
Vỏ được sử dụng làm thuốc để trị lỵ và cùng dùng trị bí tiểu tiện; có khi dùng chữa thấp khớp.

+ Nam mộc hươngAristolochia saccata Wall
Dây leo, thân già có cạnh. Lá hình tim, to 20 x 14 cm. Hoa màu tím. đài hình ống, ống hoa cong hình chữ U. Ưa bóng lúc nhỏ. Mùa hoa quả vào tháng 9-12.
Cây thuốc dùng trị đau bụng, đi đái buốt.Ghi chú: Vỏ của cây Rút - Hex godajam cũng gọi là Mộc hương. Có sự khác biệt là vỏ của Nam mộc hương xám ở ngoài, xám nâu ở trong và chỉ hơi dày, còn vỏ của cây Rút dày hơn nhiều, màu xám nâu ở ngoài và màu đỏ đen đen ở trong. Còn cây Vỏ đụt hay Tai nghé - Hymenodictyon excelsum cũng được gọi là Nam mộc hương.
Không nhầm với cây Mộc hương Saussurea lappa Clarke.thuộc họ Cúc